Vi bằng hot

Hình ảnh chủ đề của Storman. Được tạo bởi Blogger.

Categories

Recent in vibang

Home Ads

Tags

Mẫu vi bằng

Random Posts

Tin khai trương

02/11/2019

Thừa phát lại tống đạt theo thủ tục nào?

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại - Hiện nay, Thừa phát lại chưa có 1 quy trình tống đạt riêng nên hồ sơ tống đạt là thuộc quy định của pháp luật tố tụng hay thi hành án thì thực hiện theo quy trình tống đạt của các văn bản pháp luật có liên quan.

08/10/2019

Cần một quy trình tống đạt riêng cho Thừa phát lại?

- 1 nhận xét

Blog Thừa phát lại Hiện nay, công việc tống đạt của thừa phát lại đang gặp phải những khó khăn nhất định liên quan đến thủ tục. Việc cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành một bộ biểu mẫu về tống đạt hoàn chỉnh dẫn đến mỗi văn phòng thừa phát lại có một bộ biểu mẫu khác nhau. Đồng thời, giữa cơ quan yêu cầu tống đạt và các văn phòng thừa phát lại còn có “nhận thức khác nhau về trình tự, thủ tục tống đạt trong một số trường hợp như tống đạt qua người thân thích, người được tống đạt vắng mặt không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ, thủ tục niêm yết văn bản[1]. Ngoại trừ trường hợp tống đạt trực tiếp cho đích danh người cần tống đạt và có chữ ký nhận của người này vào biên bản thì các trường hợp khác, thừa phát lại được yêu cầu phải có sự chứng kiến, xác nhận hoặc cung cấp thông tin của nhiều cá nhân, tổ chức có liên quan. Bên cạnh đó, thừa phát lại cũng gặp một số khó khăn như xác định người thân thích đủ điều kiện nhận thay văn bản, đương sự từ chối nhận văn bản, một số khó khăn khác thì liên quan đến cơ chế phối hợp giữa văn phòng thừa phát lại với tổ dân phố, ủy ban nhân dân và cơ quan công an. Qua thực tiễn tống đạt cho thấy, thủ tục về tống đạt “còn nặng về hình thức, thủ tục ký tên, đóng dấu mà chưa thực sự quan tâm đến nội dung, thậm chí trong một số trường hợp còn có thể bị khai thác để hợp thức hóa cho gian dối, vì chỉ cần con dấu của Ủy ban nhân dân”[2]. Theo quy định, hầu hết các biên bản tống đạt đều phải được Ủy ban nhan dân cấp xã xác nhận dẫn đến tình trạng dồn gánh nặng sang cho công chức tư pháp. Trong khi đó, pháp luật giao quá nhiều việc cho chức danh này trong khi biên chế vị trí này ở mỗi Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có từ 01 đến 02 người. Vì vậy, công chức tư pháp không làm hết việc, công tác tống đạt bị ứ động như một “nút thắt cổ chai”. Một số trường hợp cần làm rõ nơi cư trú của đương sự làm cơ sở cho việc niêm yết cần phải có xác minh, đóng dấu của cơ quan công an, hầu hết dẫn đến tình trạng tống đạt trễ hạn. Thông thường, một biên bản tống đạt, nếu phải thông qua người thứ ba thì cần có khoảng 05 chữ ký và 02 con dấu. Trường hợp cần niêm yết phải có 06 chữ ký và 02 con dấu, nếu phải xác minh nơi cư trú của đương sự trước khi niêm yết phải có đến 08 chữ ký và 03 con dấu mới được xem là hoàn thành trả lại cho Tòa án và cơ quan thi hành án.
đổi mới quy trình tống đạt thừa phát lại
Thừa phát lại đang niêm yết văn bản của Tòa án tại địa chỉ cần tống đạt

06/09/2019

Khai trương VP Thừa phát lại Bảo Lộc

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Sáng ngày 6/9, Văn phòng Thừa phát lại TP. Bảo Lộc (Lâm Đồng) đã tổ chức Lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động. Tham dự lễ có các đại biểu UBND, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan của tỉnh và TP. Bảo Lộc.

07/08/2019

Quy định về đăng ký vi bằng và kiến nghị

- 1 nhận xét
Blog Thừa phát lại – Chế định thừa phát lại đã được áp dụng chính thức trên cả nước từ ngày 01/01/2016. Tuy nhiên, cho đến nay, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này đều được ban hành từ thời gian thí điểm. Do đó, một số quy định bộc lộ những hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn của hoạt động thừa phát lại hiện tại. Trong đó, nổi bật là công tác đăng ký vi bằng. Để giúp mọi người hiểu hơn về vấn đề này, Hoài xin có một số trao đổi dưới đây. Thuật ngữ “Dự thảo Nghị định về thừa phát lại” được sử dụng trong bài viết này là bản Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động thừa phát lại đăng tải tại Trang Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (http://moj.gov.vn/dtvb/pages/chi-tiet.aspx?itemid=321, truy cập lần cuối ngày 07/8/2019.

05/08/2019

Bị nói xấu trên facebook nên nhờ thừa phát lại lập vi bằng

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại - Liên tục nói xấu, bôi nhọ, vu khống người khác lên mạng xã hội facebook P.H.Trang đã bị cơ quan công an mời lên làm việc nhiều lần.

Tại sao liên tục “vắng mặt”

Bức xúc vì hành vi bà P.H.Trang nói xấu mình trên mạng xã hội facebook với những lời lẽ khiếm nhã, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của mình lên facebook, bà Đ.V.Anh đã phải gửi Đơn tới cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm (Hà Nội) để cầu cứu và đề nghị giải quyết.
Trước khi sự việc đáng tiếc xảy ra, bà Đ.V.Anh và bà P.H.Trang (sn 1997, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội) có mối quan hệ kinh doanh với nhau.
Đến tháng 6/2019, giữa hai người có mâu thuẫn, nhưng đỉnh điểm là ngày 26/6/2019, bà P.H.Trang đã lên mạng xã hội facebook bôi nhọ, nói xấu, vu khống bà Đ.V.Anh. Nội dung này đã được Văn phòng Thừa phát lại Ba Đình thiết lập số 767/2019/VB-TPLBĐ ngày 1/7/2019. 

Ảnh chụp màn hình trang 7 tại Vi bằng số 767/2019/VB-TPLBĐ.

03/08/2019

Thừa phát lại Sóc Trăng tuyển dụng

- Không có nhận xét nào

Buổi ký Hợp đồng tống đạt giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng và VP Thừa phát lại Sóc Trăng
Blog Thừa phát lại – Văn phòng Thừa phát lại Sóc Trăng cần tuyển dụng:
Vị trí: Thư ký nghiệp vụ
YÊU CẦU CÔNG VIỆC- NAM.
- Tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật.
- Đạo đức tốt, nghiêm túc, tâm huyết với công việc.
- Có tinh thần trách nhiệm cao, trung thực, cận thận trong công việc.
- Nhanh nhẹn, linh hoạt, giao tiếp tốt, sức khoẻ tốt.
+ Số lượng: 2
* Hồ sơ gồm:
- Sơ yếu lý lịch tự thuật (có xác nhận)
- Đơn xin việc.
- CV.
- CMND, bằng cấp, chứng chỉ (bản sao chứng thực).
+ Hình thức nộp hồ sơ:
- Nộp trực tiếp tại Văn phòng số 396 Trần Hưng Đạo, Khóm 2, Phường 2, Thành phố Sóc Trăng.
PHÚC LỢI CÔNG VIỆC
- Lương theo thỏa thuận và phù hợp với năng lực làm việc.
- Được ký hợp đồng lao động dài hạn, đóng BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật.
- Thưởng theo kết quả làm việc.
- Phụ cấp, phúc lợi theo quy chế của Văn phòng.
- Được đào tạo nghề và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp.
- Cơ hội làm việc lâu dài ổn định.
Thông tin liên hệ:
Văn Phòng Thừa Phát Lại Sóc Trăng
Số 396, Trần Hưng Đạo - Phường 2 - Thành phố Sóc Trăng - Sóc Trăng
Nguồn: Nhân lực ngành luật

Thừa phát lại An-giê-ri

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri hiện được điều chỉnh bởi Luật về tổ chức nghề thừa phát lại năm 2006. Đạo luật này gồm 68 điều được chia thành 5 chương: Chương 1 “Những quy định chung” (từ Điều 1 tới Điều 7). Chương 2 “Gia nhập nghề thừa phát lại và phương thức hành nghề” (từ Điều 8 đến Điều 38). Chương 3 “Tổ chức nghề thừa phát lại và việc thanh tra, kiểm tra” (từ Điều 39 đến Điều 48). Chương 4 “Kỷ luật” (từ Điều 49 đến Điều 63). Chương 5 “Các quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành” (từ Điều 64 đến Điều 68).

Thừa phát lại Long An: Tống đạt văn bản dần đi vào ổn định

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Sau khi chính thức đi vào hoạt động, đến nay, việc tống đạt văn bản của Văn phòng Thừa phát lại (VPTPL) Long An dần đi vào ổn định, giúp cho hoạt động tư pháp trên lĩnh vực tống đạt văn bản, được nhanh chóng, kịp thời.
Thừa phát lại Long An đang làm việc với Tòa án TP. Tân An
6 tháng đầu năm 2019, VPTPL Long An đã tống đạt 3.609 văn bản. Tổng số tiền chi phí cho công tác tống đạt văn bản là 457,8 triệu đồng.
Trên địa bàn TP.Tân An, công tác tống đạt văn bản được thực hiện tương đối thuận lợi do cán bộ tư pháp, UBND các phường, xã đã nắm chắc Nghị định về Thừa phát lại.
Theo số liệu của TAND TP.Tân An, từ đầu năm đến nay, TAND TP.Tân An phối hợp VPTPL Long An tống đạt trên 1.400 văn bản. Riêng trong tháng 6/2019, VPTPL Long An tống đạt 262 văn bản liên quan đến hoạt động xét xử, hòa giải,… của tòa án, chỉ có 2 văn bản phải trả lại.
Theo Chánh án TAND TP.Tân An - Huỳnh Thị Phượng, từ khi phối hợp VPTPL Long An, công tác tống đạt văn bản có nhiều thuận lợi, các thư ký Tòa án có thời gian giải quyết công việc khác.
Tuy nhiên, theo đại diện VPTPL Long An, khó khăn trong công tác tống đạt văn bản hiện nay là một số văn bản chưa cụ thể, thiếu địa chỉ số nhà của đương sự, đại diện chính quyền cơ sở một số nơi chưa hợp tác chặt chẽ với thư ký làm nhiệm vụ tống đạt.
Trưởng VPTPL Long An - Lê Tấn Phát chia sẻ: “Do công tác tống đạt văn bản thông qua VPTPL ở Long An còn mới, nên VPTPL Long An rất mong được sự hỗ trợ của các cấp chính quyền, cán bộ tư pháp, công an các xã, thị trấn và các trưởng khu phố, qua đó giúp cho các thư ký VPTPL hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện tốt công tác cải cách tư pháp.”./.

02/08/2019

Thừa phát lại là ai, vi bằng là gì?

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại - Nhiều đọc giả vẫn thắc mắc, không hiểu về chức danh "thừa phát lại", khái niệm "vi bằng". Ở bài viết này, Hoài sẽ chia sẻ chi tiết.
Khái niệm thừa phát lại
Thuật ngữ “thừa phát lại” là một thuật ngữ có gốc Hán - Việt. “Thừa” có nghĩa là “thừa lệnh, tuân theo lệnh của cấp trên”; “phát” có nghĩa là “phát ra, gửi đi hoặc giao cho ai vật gì”; “lại” nghĩa là “công lại”. Theo “Hán – Việt từ điển” của Đào Duy Anh thì thừa phát lại là “người thuộc lại của Tòa án sơ cấp hay Tòa án địa phương, giữ việc phát tống các văn thư, chấp hành điều phán quyết của Tòa án, hay là thu một sản vật”[1]. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì thừa phát lại là “Viên chức chuyên việc chuyển đạt mệnh lệnh của toà trong việc thi hành các bản án”[2]. Từ điển Tiếng Việt thì định nghĩa thừa phát lại là “Trưởng toà, người có tư cách chuyển đạt, thi hành các án toà, lập vi bằng những vụ phạm phép tại trận[3].
Dưới góc độ luật học, thừa phát lại được định nghĩa là “Viên chức chuyên việc tống đạt giấy tờ và thi hành phán quyết của Toà án hay thu hồi một sản vật[4].
Tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng các tài liệu nêu trên đều định nghĩa thừa phát lại là người không phải là “công lại”, không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước nhưng lại thực hiện một số công việc mang tính chất quyền lực nhà nước. Đây được xem là một chức danh phụ tá pháp lý cho Toà án.
Dưới góc độ quy định của pháp luật, khoản 1 Điều 2 Nghị định số 61 quy định: “Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan”. Theo quy định này, chức danh thừa phát lại mang hai đặc trưng: Thứ nhất, đây là người được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo trình tự, thủ tục nhất định khi đáp ứng tiêu chuẩn quy định; thứ hai, thừa phát lại là người thực hiện các công việc mang tính quyền lực Nhà nước gồm thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác[5].
thừa phát lại là gì
Thừa phát lại đang tư vấn cho khách hàng (Nguồn: Báo Vĩnh Phúc)

Khái niệm vi bằng
Đây là một thuật ngữ được sử dụng từ thời điểm chế định thừa phát lại mới du nhập vào nước ta thời Pháp thuộc. Đến khi chế định thừa phát lại được áp dụng trở lại ở nước ta, thuật ngữ này vẫn được tiếp tục sử dụng. Theo Từ điển Tiếng Việt thì vi bằng có nghĩa động từ là “làm bằng, dùng làm chứng cứ”, nghĩa danh từ là “Biên bản, tờ giấy ghi qua một việc vừa xảy ra với tất cả chi tiết, có chữ ký tên của những người chứng và nhà đương cuộc[6]. Từ điển Hán – Việt hiện đại cũng có quan điểm tương tự khi định nghĩa vi bằng là “dùng làm bằng chứng[7].
Căn cứ vào Điều 2 Nghị định số 61, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135 thì “vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”. Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 61 cũng quy định “vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực”.
Từ phân tích trên, hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại là hoạt động của tổ chức có tính chất công nhằm ghi nhận, chứng kiến các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của khách hàng theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.

khái niệm vi bằng
Một bản vi bằng (Nguồn: Thừa phát lại Thủ Đức)


[1] Đào Duy Anh (1975), Hán – Việt từ điển, Nxb Trường Thi in lần ba, Sài Gòn, tr.467.
[2] Nguyễn Như Ý (chủ biên), (2013), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1554.
[3] Viện Ngôn Ngữ (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, tr.977-978.
[4] Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.756.
[5] Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của Chính phủ.
[6] Viện Ngôn Ngữ (2007), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, tr.1149.
[7] Trần Thị Thanh Liêm (2007), Từ điển Hán - Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, tr.782.
Nguồn: Trích Luận văn "Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Hoàng Đức Hoài, bảo vệ tại Đại học kinh tế - Luật năm 2019.

01/08/2019

Hoạt động lập vi bằng có đặc điểm gì?

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Hoạt động lập vi bằng được thực hiện bởi thừa phát lại có những đặc điểm riêng để phân biệt với các hoạt động khác gồm:
Thứ nhất, là hoạt động bổ trợ tư pháp
Theo định nghĩa tại Từ điển Luật học thì “Bổ trợ tư pháp là trợ giúp, tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, chính xác bằng cách cung cấp hồ sơ, chứng cứ, phản biện cho các khâu, đoạn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời giúp cho các cá nhân, công dân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”[1].
Hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại là hoạt động xác lập chứng cứ. Khi thực hiện công việc này, thừa phát lại với tư cách là người được Nhà nước trao quyền chứng kiến các sự kiện, hành vi để xác lập nên vi bằng. Vi bằng là sản phẩm của hoạt động lập vi bằng, chứa đựng các thông tin về sự kiện, hành vi mà thừa phát lại trực tiếp chứng kiến. Trong hoạt động giải quyết vụ việc tại Tòa án, vi bằng giúp Tòa án xác định được sự thật khách quan đã diễn ra mà không phải mất nhiều thời gian để thu thập, xem xét, đánh giá chứng cứ, qua đó rút ngắn được thời gian giải quyết vụ việc. Đối với luật sư, hoạt động lập vi bằng đóng vai trò là công cụ, phương tiện để luật sư thu thập chứng cứ, phản biện với bên đối lập, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Đối với lĩnh vực công chứng, hoạt động lập vi bằng “bổ khuyết” cho hoạt động này khi công chứng viên không có thẩm quyền chứng nhận hết tất cả quá trình giao dịch giữa các bên.
Hình minh họa
Đối với người dân, doanh nghiệp, hoạt động lập vi bằng có ý nghĩa tạo lập, lưu giữ chứng cứ về giao dịch, qua đó giúp các bên thêm tin tưởng lẫn nhau, tích cực tiến hành và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Khi phát sinh mâu thuẫn, bất đồng, các bên có vi bằng kiểm tra, đối chứng nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, tự giải quyết mâu thuẫn, bất đồng mà không phải yêu cầu Tòa án, Trọng tài thương mại giải quyết. Hai cơ quan này vì thế mà cũng được giảm tải công việc.
Do đó, hoạt động lập vi bằng có vai trò là một hoạt động bổ trợ tư pháp, trợ giúp đắc lực cho hoạt động của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp khác.
Thứ hai, do thừa phát lại trực tiếp thực hiện
Sau khi tiếp nhận yêu cầu lập vi bằng của đương sự, thừa phát lại phải trực tiếp chứng kiến, lập vi bằng mà không được giao lại cho thư ký hay ủy quyền cho bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào khác thực hiện.
Điều này xuất phát từ hai lý do: Một là, chỉ có người trực tiếp chứng kiến toàn bộ sự việc mới có đầy đủ thông tin để xác lập một văn bản ghi nhận lại những gì mình làm chứng, khẳng định nội dung đó là sự thật, khách quan; hai là, vi bằng là một tài liệu có giá trị chứng cứ, vậy nên chủ thể xác lập phải là người có đủ tư cách pháp lý tức được Nhà nước bổ nhiệm và đạt một trình độ chuyên môn nhất định, đủ điều kiện để thực hiện hoạt động này. Do đó, chỉ có thừa phát lại mới có thẩm quyền lập vi bằng.
Khi lập vi bằng, thừa phát lại phải là người trực tiếp có mặt, chứng kiến toàn bộ sự kiện, hành vi, ghi chép các thông tin. Sau đó, thừa phát lại soạn thảo vi bằng, ký hồ sơ vi bằng, cam đoan về tính xác thực, khách quan về những sự kiện, hành vi mà mình mô tả trong vi bằng. Trong quá trình này, thừa phát lại có thể yêu cầu thư ký nghiệp vụ hỗ trợ (quay phim, chụp hình, đo đạc, ghi chép, soạn thảo vi bằng); mời các bên khác tham gia (đơn vị giám định, đại diện của chính quyền địa phương, người phiên dịch) nếu thấy cần thiết nhưng thừa phát lại là người duy nhất chịu trách nhiệm về tính xác thực của các hành vi, sự kiện nêu trong vi bằng.
Thứ ba, được thực hiện theo một trình tự, thủ tục theo luật định
Các hoạt động xảy ra thường xuyên, mang tính chất pháp lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác dù là do cơ quan nhà nước hay tổ chức tư nhân thực hiện thì thường được pháp luật quy định về trình tự, thủ tục để các chủ thể có liên quan thực hiện. Hoạt động lập vi bằng cũng không ngoại lệ. Đây là một công việc mang tính chất công nhằm ghi nhận các thông tin để xác lập chứng cứ nhưng được Nhà nước trao quyền cho tư nhân thực hiện. Vi bằng được Tòa án và các bên sử dụng làm cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Như vậy, đây là văn bản rất quan trọng trong lĩnh vực tư pháp và trong đời sống giao dịch. Do đó, hoạt động lập vi bằng cần được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định để đảm bảo sự chặt chẽ và hợp pháp. Về cơ bản, thủ tục lập vi bằng trải qua các bước gồm: Tiếp nhận yêu cầu lập vi bằng; thỏa thuận về việc lập vi bằng; tiến hành lập vi bằng; bàn giao và lưu trữ vi bằng.
Ngoài ra, trường hợp vi bằng cần có xác nhận hoặc đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì thừa phát lại cũng phải thực hiện thủ tục này thì vi bằng mới phát sinh hiệu lực.
Thứ tư, vi bằng phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền
Đăng ký vi bằng là hoạt động mà thừa phát lại khai báo với cơ quan có thẩm quyền về vi bằng mà mình đã lập. Hiện nay, trong quản lý hành chính, chúng ta có nhiều thủ tục liên quan đến việc đăng ký với cơ quan có thẩm quyền như đăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư, đăng ký tạm trú, đăng ký giao dịch bảo đảm… Việc đăng ký này tùy từng trường hợp mà có những mục đích, ý nghĩa khác nhau nhưng tất cả các thủ tục này đều có điểm chung là nhằm để cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền thông tin của một hoạt động cụ thể để quản lý. Việc đăng ký vi bằng cũng có mục đích tương tự là để cung cấp cho cơ quan quản lý các thông tin về vi bằng được xác lập, giúp Nhà nước kiểm soát hoạt động lập vi bằng.
Hiện nay, Sở Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký vi bằng. Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thực hiện các công việc theo phân công, trong đó có việc quản lý các chức danh bổ trợ tư pháp. Thừa phát lại là một chức danh bổ trợ tư pháp; hoạt động lập vi bằng là một hoạt động bổ trợ tư pháp. Do đó, Sở Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký các vi bằng do thừa phát lại lập.
Về phương thức, trình tự đăng ký vi bằng, khoản 4 Điều 26 Nghị định số 61 quy định vi bằng được lập thành 03 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 01 bản gửi Sở Tư pháp để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng; 01 bản lưu trữ tại văn phòng thừa phát lại theo quy định của pháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng. Theo quy định này, thừa phát lại sẽ nộp một bản chính vi bằng để đăng ký tại Sở Tư pháp. Đây là hình thức nộp hồ sơ trực tiếp, truyền thống. Theo tác giả, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nỗ lực cải cách hành chính của Nhà nước ta, thủ tục đăng ký vi bằng có thể thực hiện trực tuyến. Đến một thời điểm nhất định, khi pháp luật về chế định thừa phát lại đã chặt chẽ và thừa phát lại đã khẳng định được uy tín của mình trong xã hội thì có thể bỏ thủ tục đăng ký vi bằng. Ở Cộng hòa Pháp, vi bằng do thừa phát lại lập không phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.




[1] Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.72.




Nguồn: Trích Luận văn "Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Hoàng Đức Hoài, bảo vệ tại Đại học kinh tế - Luật năm 2019.

16/07/2019

Vi bằng bị tranh chấp giá trị pháp lý, phải xử sao?

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Hiện nay, đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề xử lý vi bằng được lập, đã được đăng ký nhưng thừa phát lại có vi phạm tức là tranh chấp về giá trị pháp lý của vi bằng. Quan điểm thứ nhất cho rằng, các bên yêu cầu Tòa án tuyên vi bằng vô hiệu[1]. Quan điểm này đánh giá vi bằng của thừa phát lại tương tự văn bản công chứng nên nếu có vi phạm thì Tòa án tuyên vô hiệu. Quan điểm thứ hai cho rằng, các bên có thể yêu cầu Tòa án hủy vi bằng[2]. Quan điểm thứ ba thì cho rằng, nếu vi bằng không hợp pháp thì Tòa án từ chối sử dụng mà không phải hủy bỏ vi bằng; vi bằng lúc này chỉ là tờ giấy mà không có giá trị sử dụng. Những người theo quan điểm thứ ba lập luận thêm rằng vi bằng là văn bản ghi nhận lại sự kiện, hành vi có thật, đã diễn ra khách quan, do đó, việc hủy bỏ vi bằng không có nghĩa là hủy bỏ được sự kiện, hành vi đó”[3].
Hình minh họa vi bằng

Hiện nay, pháp luật về tố tụng dân sự không có bất kỳ quy định nào về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp về giá trị pháp lý của vi bằng. Do đó, nếu người dân có yêu cầu, Tòa án sẽ rất lúng túng trong việc đưa ra hướng giải quyết.
Dưới góc độ lý luận, vi bằng có giá trị chứng cứ trong xét xử và là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác nên trường hợp có tranh chấp giá trị pháp lý của vi bằng mà vi bằng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp thì phải có cơ chế để vô hiệu hóa giá trị vi bằng, tránh ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người khác.
Tác giả không đồng tình với quan điểm thứ nhất khi cho rằng, Tòa án tuyên vi bằng vô hiệu để vô hiệu hóa vi bằng. Bởi lẽ, qua nghiên cứu thì thuật ngữ “vô hiệu” thường được áp dụng đối với các hợp đồng, giao dịch có hình thức, nội dung vi phạm quy định của pháp luật. Vi bằng là nội dung làm chứng độc lập của thừa phát lại mà không phải là hợp đồng, giao dịch. Vậy nên, Tòa án tuyên vi bằng vô hiệu như một phương thức vô hiệu hóa giá trị của vi bằng là chưa thực sự hợp lý.
Tác giả không đồng tình với quan điểm thứ ba khi cho rằng, nếu Tòa án hoặc các bên không sử dụng vi bằng thì vi bằng không có giá trị sử dụng nên không cần thiết phải hủy vi bằng. Đây là góc nhìn chưa toàn diện, bởi vì, việc sử dụng vi bằng hiện nay rất đa dạng. Vi bằng có thể không được sử dụng trong vụ việc này nhưng có thể được sử dụng ở một vụ việc khác mà không ai kiểm soát được nếu chúng ta không có một văn bản, quyết định vô hiệu hóa vi bằng của cơ quan có thẩm quyền gửi các bên có liên quan.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai là nên trao quyền cho Tòa án hủy bỏ vi bằng khi phát hiện vi bằng có vi phạm. Đối với các văn bản pháp lý không mang tính hợp đồng, ví dụ: Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên, bản án của Tòa án, quyết định hành chính,... thì để vô hiệu hóa giá trị của chúng khi có vi phạm, pháp luật quy định phương thức hủy bỏ. Vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập, không mang tính hợp đồng nên khi có vi phạm, Tòa án tuyên hủy bỏ là hợp lý theo thông lệ chung. Trên thực tế, đã có Tòa án tuyên hủy bỏ vi bằng[4].
Tuy nhiên, cần phân biệt là đối với các vi bằng mà thừa phát lại chỉ vi phạm về thủ tục lập vi bằng thì việc hủy bỏ vi bằng không có nghĩa là hủy bỏ các sự kiện, hành vi nêu trong vi bằng mà chỉ hủy bỏ hình thức chứa đựng thông tin về sự kiện, hành vi. Sau khi vi bằng bị hủy bỏ, lời làm chứng của thừa phát lại trở thành lời làm chứng của người bình thường cùng các tài liệu đính kèm vi bằng vẫn có giá trị là nguồn chứng cứ theo quy định khoản 1, khoản 4 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 46 Nghị định số 61 chỉ quy định chung chung là “đối với việc lập vi bằng, nếu có tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết”. Điều 73 của Dự thảo về thừa phát lại đã quy định chi tiết hơn là tranh chấp liên quan đến hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định; còn tranh chấp về vi bằng thì các bên yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, Dự thảo Nghị định về thừa phát lại chưa đưa ra được hướng giải quyết đối với tranh chấp giá trị pháp lý của vi bằng.
Trên cơ sở bất cập nêu trên, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 73 của Dự thảo Nghị định về thừa phát lại như sau
“2. Trường hợp vi bằng đã được đăng ký tại Sở Tư pháp nhưng các bên phát hiện thừa phát lại có vi phạm trong quá trình lập vi bằng thì có quyền yêu cầu Tòa án xem xét hủy bỏ vi bằng”.
Ngoài ra, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần bổ sung quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố hủy bỏ vi bằng”.




[1] Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh. “Vi bằng của thừa phát lại phải được đăng ký”. Internet: http://plo.vn/ban-doc/vi-bang-cua-thua-phat-lai-phai-duoc-dang-ky-177238.html, 18/5/2018.
[2] Bùi Trọng Hào. “Lập vi bằng để lại tài sản cho con”. Internet: http://kinhtedothi.vn/lap-vi-bang-de-lai-tai-san-cho-con-274289.html, 18/5/2018.
[3] Báo cáo ngày 06/10/2017 của Bộ Tư pháp về thực trạng lập, đăng ký vi bằng và xử lý vi phạm hành chính trong tổ chức và hoạt động thừa phát lại.
[4] Bản án sơ thẩm số 92/2017/DS-ST ngày 10/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và Bản án phúc thẩm số 67/2018/DS-PT NGÀY 13/04/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Nguồn: Trích Luận văn "Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Hoàng Đức Hoài, bảo vệ tại Đại học kinh tế - Luật năm 2019.

06/07/2019

Bế giảng lớp đào tạo Thừa phát lại Khóa 3 Hậu Giang

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Ngày 06/7/2019, Học viện Tư pháp đã tổ chức Lễ bế giảng Lớp Đào tạo nghề Thừa phát lại khóa 3 tại Hậu Giang
Đến dự Lễ bế giảng có ông Dương Thành Đức – Phó hiệu trưởng Trường Trung cấp Luật Vị Thanh, bà Lê Thị Cẩm Tú - Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang, bà Trần Kỳ Trân – Văn phòng Thừa phát lại Khánh Dư. Phía Học viện Tư pháp có ông Đoàn Trung Kiên – Giám đốc Học viện, ông Trần Quốc Liêm – Phó trưởng cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh cùng các cán bộ, giảng viên của Học viện.
Sau một thời gian học tập và rèn luyện, các học viên các học viên được trang bị khối kiến thức chung về thừa phát lại; khối kiến thức kỹ năng và khối kiến thức thực hành nghề. 27 học viên Lớp Đào tạo nghề Thừa phát lại khóa 3 tại Hậu Giang đã được xét công nhận tốt nghiệp chương trình đào tạo nghề Thừa phát lại. Hội đồng xét công nhận tốt nghiệp Học viện Tư pháp cũng đã đề nghị khen thưởng 01 học viên đạt danh hiệu "Học tập Khá, Rèn luyện tốt" và 01 học viên có thành tích trong phong trào thi đua “Xây dựng trường, lớp”.
Thay mặt Lãnh đạo Học viện Tư pháp, Giám đốc Đoàn Trung Kiên biểu dương và chúc mừng các học viên hoàn thành khóa học. Những kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được trong thời gian học tập tại Học viện Tư pháp là nền móng, là những viên gạch đầu tiên để các học viên tiếp tục trau dồi, học hỏi trên con đường sự nghiệp. Thầy mong các học viên sẽ vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công việc, đóng góp hiệu quả, hữu ích cho cơ quan, đơn vị nơi công tác. 

Giám đốc Học viện Tư pháp Đoàn Trung Kiên trao chứng chỉ tốt nghiệp cho các học viên

Phó hiệu trưởng Trường Trung cấp Luật Vị Thanh Dương Thành Đức trao Giấy khen cho các học viên
Nguồn: http://www.hocvientuphap.edu.vn

19/06/2019

Vụ sách giả trên mạng, đã nhờ Thừa phát lại lập vi bằng

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Một đầu sách Đắc nhân tâm nhưng đã bị 16 nơi in lậu, làm giả, thậm chí để giá bán cao hơn sách thật nhằm đánh lừa người mua.
Ngày 18-6, Công ty First News đã tổ chức buổi họp báo công bố bằng chứng kinh doanh tiêu thụ sách giả vi phạm pháp luật trên một số sàn điện tử.
Cuộc họp báo do Công ty sách Trí Việt - First News tổ chức với sự tham gia của Hội Xuất bản Việt Nam, Hội Sở hữu trí tuệ, các công ty luật và đông đảo các công ty làm sách, phát hành sách tại TP.HCM.
Một đầu sách ăn khách bị 16 nơi làm giả
Ông Nguyễn Văn Phước, Giám đốc First News, bày tỏ quan điểm: Sách giả hiện nay đã đạt đến trình độ gần như sách thật mà chỉ có những người làm nghề xuất bản lâu năm mới có thể phát hiện ra. Ông Phước cho hay First News hiện có khoảng 1.000 đầu sách giá trị nhưng đã phát hiện 686 đầu sách bị in lậu, làm giả.

Đơn cử một đầu sách Đắc nhân tâm nhưng đã bị 16 nơi in lậu, làm giả, thậm chí để giá bán cao hơn sách thật nhằm đánh lừa người mua.
Để chứng minh điều này, giám đốc First New cho biết công ty đã phải đặt 128 đơn hàng mua sách ngẫu nhiên từ tất cả sàn, công ty thương mại điện tử (TMĐT) bán sách online; quay video từ khâu đặt sách đến khi nhận hàng và không mở các bao sách được giao mà mời các công ty thừa phát lại đến tiến hành mở bao hàng và lập vi bằng. Kết quả, 128 đơn hàng ngẫu nhiên đều là sách in lậu và sách giả.
“First News đã chọn ba công ty bán sách online có số lần vi phạm phân phối sách giả tiếp tay in lậu nhiều nhất là Lazada, Sendo và Shopee để công bố đích danh” - ông Phước khẳng định.
Ông cũng cho biết thêm: “First News đã phát hiện các sàn TMĐT bán sách giả từ khá lâu, đã gửi cảnh báo nhiều lần đến tất cả sàn nhưng dường như không được quan tâm. Các sàn này phản hồi rằng chỉ cho thuê cửa hàng và không chịu trách nhiệm ai bán sách giả hay bất cứ hàng hóa giả khác”.
Cùng nỗi băn khoăn về vấn nạn sách giả, đại diện Công ty Fahasa cũng phản ánh: Nếu như trước đây sách giả chỉ được bán tại một số cửa hàng cố định thì hiện nay độc giả mua nhầm rất nhiều trên các trang TMĐT có thương hiệu. Việc này gây ra nhiều thiệt hại cho Fahasa và các công ty xuất bản.
Ông Lê Hoàng, Phó chủ tịch Hiệp hội Xuất bản Việt Nam, cho biết cần phải khẳng định sách giả chứ không thể gọi là sách lậu, lậu là hành vi buôn lậu. Và hành vi in giả và buôn bán sách giả được coi là vi phạm pháp luật hình sự. Do đó cuộc đấu tranh này cần có sự kết hợp giữa nhà xuất bản và đơn vị làm sách, cũng như các cơ quan chức năng và văn phòng luật sư.
thừa phát lại
Ông Nguyễn Văn Phước bày tỏ bức xúc trước vấn nạn sách giả bán tràn lan trên các sàn thương mại điện tử. Ảnh: THU HÀ
 Sẽ phối hợp xử lý
Trao đổi với PV Pháp Luật TP.HCM, đại diện trang Sendo cho biết trang này đã thực hiện các hoạt động liên quan đến sự việc một số sản phẩm sách không có bản quyền xuất hiện trên sàn TMĐT Sendo bằng cách tăng cường rà soát chặt chẽ các sản phẩm thuộc ngành hàng này. Phía Sendo sẵn sàng hợp tác chặt chẽ cùng các cơ quan hữu quan, báo đài cũng như các doanh nghiệp có liên quan để phát hiện, xử lý và ngăn chặn kịp thời tất cả hành vi vi phạm của người bán.
Đại diện trang TMĐT Shopee cũng khẳng định họ sẽ có các biện pháp xử lý cứng rắn khi phát hiện hoặc nhận được bất kỳ phản ánh có căn cứ xác thực đối với bất kỳ hành vi kinh doanh vi phạm pháp luật trên sàn TMĐT Shopee, nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và các doanh nghiệp, thương nhân kinh doanh chân chính. Trong một số trường hợp, Shopee yêu cầu người bán cung cấp thông tin, tài liệu chứng minh sản phẩm đăng bán là hợp lệ. Nếu người bán không cung cấp được tài liệu theo yêu cầu, Shopee sẽ khóa hẳn sản phẩm. Trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng, Shopee sẽ tiến hành khóa tài khoản. Liên quan đến thông tin First News cho biết đã gửi cảnh báo đến các sàn TMĐT về việc nhiều gian hàng bán sách giả nhưng bị sàn ngó lơ, “chúng tôi đã rà soát nội bộ và ghi nhận rằng đến thời điểm này, chúng tôi chưa nhận được thông báo nào từ First News dưới hình thức bằng văn bản hay bất kỳ hình thức khác” - đại diện Shopee cho hay.
Người đại diện trang TMĐT Lazada cũng cho biết tính tới thời điểm này họ chưa nhận được thông báo chính thức nào từ First News cũng như chưa đưa ra bất kỳ phản hồi nào liên quan đến vấn đề này. Theo quy trình xử lý khiếu nại của Lazada, doanh nghiệp sở hữu tác quyền có thể liên hệ với Lazada và theo đó, họ sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp này làm việc với người vi phạm tác quyền (nếu có) để xử lý vụ việc. Theo họ, các cáo buộc về hàng giả hay vi phạm tác quyền cần được dựa trên kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tổng cục Quản lý thị trường tăng cường xử lý
Ông Trần Hữu Linh, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương), cho biết quy định về hoạt động TMĐT đã nêu rõ trách nhiệm của sàn TMĐT trong việc để xảy ra hoạt động bán hàng lậu, hàng giả. Theo đó, tùy mức độ, sàn TMĐT phải có biện pháp gỡ bỏ, khóa tài khoản... đối với các gian hàng sai phạm. Về phía quản lý thị trường, cơ quan này cũng đã phối hợp với các cơ quan ngành văn hóa có biện pháp phát hiện, bắt giữ, xử lý các vụ in ấn sách lậu.
----------------------
Thực sự, cơ sở pháp lý để xử lý các sàn TMĐT kia rất khó bởi họ chỉ là đơn vị trung gian: Tạo ra “chợ” và tạo ra cơ sở để thanh toán và giao hàng, trên thực tế họ không có hàng. Nếu các gian hàng TMĐT này họ lưu trữ hàng thì mới xem xét và xử lý được.
Luật sư PHAN VŨ TUẤNPhó chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ TP.HCM 
Nguồn: PLO (tiêu đề do người đăng đặt lại)

30/05/2019

4 lý do không nên mua nhà qua vi bằng?

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại - Chia sẻ trong bài báo "Cảnh báo: Mua nhà đất qua vi bằng là mất trắng", Thừa phát lại Nguyễn Tiến Pháp, Trưởng văn phòng Thừa phát lại Quận Thủ Đức đã có những chia sẻ như sau:
Đúng là có tình trạng TPL chưa giải thích rõ giá trị pháp lý của vi bằng, làm một số đối tượng lợi dụng lừa gạt người dân nhầm tưởng giá trị của vi bằng. Vì vậy, việc giải thích giá trị của vi bằng là yêu cầu bắt buộc đối với TPL trước khi lập vi bằng.

vi bằng nhà đất
Hình minh họa
Vi bằng là văn bản do TPL lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác. Việc lập vi bằng của TPL là để tạo lập chứng cứ mang lại lợi ích cho người dân, phòng ngừa tranh chấp, giảm tải hoạt động của tòa án khi giải quyết vụ án. Người dân cần hiểu đúng về giá trị của vi bằng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Có bốn lý do để người dân không nên mua, bán nhà, đất qua vi bằng. Một là vi bằng là văn bản có giá trị chứng cứ, không phải là hợp đồng, giao dịch. Do đó không thể mua bán nhà, đất bằng vi bằng mà phải mua bán qua công chứng. Khi thực hiện hợp đồng công chứng, các bên có thể yêu cầu TPL lập vi bằng để ghi nhận việc bàn giao tiền, tài sản, ghi nhận hiện trạng tài sản để làm chứng cứ chứ không có giá trị như hợp đồng công chứng mua bán nhà, đất.
Hai là không nên mua bán nhà, đất chưa đủ điều kiện giao dịch theo quy định của pháp luật, mua bán bằng giấy tay. Trường hợp này vi bằng của TPL chỉ có giá trị chứng cứ chứng minh các bên có thực hiện giao dịch, làm cơ sở để tòa án giải quyết, xem xét công nhận hợp đồng, giao dịch hoặc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Vi bằng không phải là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho người mua.
Ba là người mua cần yêu cầu TPL giải thích rõ giá trị pháp lý của vi bằng, phải đảm bảo mình đã hiểu rõ trước khi giao tiền, tài sản để thực hiện hợp đồng, giao dịch. Hợp đồng công chứng có giá trị pháp lý khi đã được công chứng viên ký tên, đóng dấu phát hành, còn vi bằng chỉ ghi nhận lại sự kiện, hành vi diễn ra trước mặt TPL. Do vậy, nếu như các bên đã giao tiền, tài sản mà sau đó phát sinh tranh chấp, hoặc đổi ý… thì việc đòi lại tiền, tài sản đã giao sẽ rất phức tạp.
Bốn là nên hiểu đúng về vi bằng của TPL. Vi bằng của TPL là chứng cứ trong tố tụng, không phải là hình thức mua bán nhà, đất. Việc hiểu sai giá trị chứng cứ của vi bằng làm chệch hướng hoạt động quản lý về đất đai cũng như quản lý về TPL.
Thừa phát lại NGUYỄN TIẾN PHÁPTrưởng Văn phòng Thừa phát lại 
Thủ Đức, TP.HCM (Nguồn PLO)