Vi bằng hot

Hình ảnh chủ đề của Storman. Được tạo bởi Blogger.

Categories

Recent in vibang

Home Ads

Tags

Mẫu vi bằng

Random Posts

Tin khai trương

02/11/2019

Thừa phát lại tống đạt theo thủ tục nào?

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại - Hiện nay, Thừa phát lại chưa có 1 quy trình tống đạt riêng nên hồ sơ tống đạt là thuộc quy định của pháp luật tố tụng hay thi hành án thì thực hiện theo quy trình tống đạt của các văn bản pháp luật có liên quan.

08/10/2019

Cần một quy trình tống đạt riêng cho Thừa phát lại?

- Không có nhận xét nào

Blog Thừa phát lại Hiện nay, công việc tống đạt của thừa phát lại đang gặp phải những khó khăn nhất định liên quan đến thủ tục. Việc cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành một bộ biểu mẫu về tống đạt hoàn chỉnh dẫn đến mỗi văn phòng thừa phát lại có một bộ biểu mẫu khác nhau. Đồng thời, giữa cơ quan yêu cầu tống đạt và các văn phòng thừa phát lại còn có “nhận thức khác nhau về trình tự, thủ tục tống đạt trong một số trường hợp như tống đạt qua người thân thích, người được tống đạt vắng mặt không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ, thủ tục niêm yết văn bản[1]. Ngoại trừ trường hợp tống đạt trực tiếp cho đích danh người cần tống đạt và có chữ ký nhận của người này vào biên bản thì các trường hợp khác, thừa phát lại được yêu cầu phải có sự chứng kiến, xác nhận hoặc cung cấp thông tin của nhiều cá nhân, tổ chức có liên quan. Bên cạnh đó, thừa phát lại cũng gặp một số khó khăn như xác định người thân thích đủ điều kiện nhận thay văn bản, đương sự từ chối nhận văn bản, một số khó khăn khác thì liên quan đến cơ chế phối hợp giữa văn phòng thừa phát lại với tổ dân phố, ủy ban nhân dân và cơ quan công an. Qua thực tiễn tống đạt cho thấy, thủ tục về tống đạt “còn nặng về hình thức, thủ tục ký tên, đóng dấu mà chưa thực sự quan tâm đến nội dung, thậm chí trong một số trường hợp còn có thể bị khai thác để hợp thức hóa cho gian dối, vì chỉ cần con dấu của Ủy ban nhân dân”[2]. Theo quy định, hầu hết các biên bản tống đạt đều phải được Ủy ban nhan dân cấp xã xác nhận dẫn đến tình trạng dồn gánh nặng sang cho công chức tư pháp. Trong khi đó, pháp luật giao quá nhiều việc cho chức danh này trong khi biên chế vị trí này ở mỗi Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ có từ 01 đến 02 người. Vì vậy, công chức tư pháp không làm hết việc, công tác tống đạt bị ứ động như một “nút thắt cổ chai”. Một số trường hợp cần làm rõ nơi cư trú của đương sự làm cơ sở cho việc niêm yết cần phải có xác minh, đóng dấu của cơ quan công an, hầu hết dẫn đến tình trạng tống đạt trễ hạn. Thông thường, một biên bản tống đạt, nếu phải thông qua người thứ ba thì cần có khoảng 05 chữ ký và 02 con dấu. Trường hợp cần niêm yết phải có 06 chữ ký và 02 con dấu, nếu phải xác minh nơi cư trú của đương sự trước khi niêm yết phải có đến 08 chữ ký và 03 con dấu mới được xem là hoàn thành trả lại cho Tòa án và cơ quan thi hành án.
đổi mới quy trình tống đạt thừa phát lại
Thừa phát lại đang niêm yết văn bản của Tòa án tại địa chỉ cần tống đạt
Đa số các vướng mắc vừa nêu không phải chỉ đến khi thừa phát lại đi tống đạt mới gặp mà trước đây thẩm phán, chấp hành viên hoặc thư ký đã từng gặp. Nếu chậm hoàn thành việc tống đạt sẽ tạo ra nhiều điểm nghẽn của tiến trình xét xử, thi hành án bởi một hồ sơ vụ án hoặc thi hành án dân sự sẽ phải thực hiện nhiều lần tống đạt văn bản cho nhiều đương sự. Theo tác giả, muốn thúc đẩy chất lượng hoạt động xét xử và thi hành án dân sự thì ngoài việc có lực lượng chuyên trách tống đạt thì phải có quy trình tống đạt phù hợp. Thừa phát lại là những người có chuyên môn và kinh nghiệm công tác pháp luật, được đào tạo về lĩnh vực tống đạt và được Nhà nước bổ nhiệm qua trình tự, thủ tục kỹ lưỡng. Ngoài ra, đây là người có uy tín trong xã hội khi thực hiện chức năng làm chứng. Do đó, tác giả kiến nghị xây dựng một quy trình tống đạt riêng cho thừa phát lại theo hướng nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của các văn phòng thừa phát lại, tăng cường tính tích cực, chủ động của thừa phát lại và chỉ phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phối hợp khi cần thiết, đồng thời “giải phóng công chức tư pháp, cũng như các chủ thể khác như tổ trưởng tổ dân phố, công an khu vực ra khỏi trách nhiệm tống đạt”[3]. Một số điểm khác biệt của quy trình này so với quy trình tống đạt trong pháp luật tố tụng và thi hành án dân sự là:
Thứ nhất, thừa phát lại thực hiện việc tống đạt là độc lập, không cần sự chứng kiến, xác nhận của chính quyền địa phương trên biên bản tống đạt ngoại trừ trường hợp trong biên bản tống đạt có ghi các thông tin do địa phương cung cấp hoặc niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân. Ví dụ, công an phường cung cấp thông tin là đương sự chuyển đi nơi khác thì trên biên bản tống đạt phải có xác nhận cơ quan này, biên bản niêm yết ở trụ sở Ủy ban nhân dân phường thì phải có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân. Các trường hợp còn lại như đương sự đi vắng, giao cho người thân thích, giao cho tổ trưởng tổ dân phố hoặc niêm yết tại địa chỉ đương sự thì không cần phải có sự chứng kiến, xác nhận của cá nhân, tổ chức khác. Trên thực tế hiện nay, nhiều trường hợp, việc phối hợp của tổ dân phố, ủy ban nhân dân cấp xã chỉ dừng lại ở mức hình thức bởi vì các cá nhân, tổ chức này không phải lúc nào cũng có thời gian để trực tiếp đi cùng hỗ trợ người thực hiện tống đạt. Thừa phát lại là người được Nhà nước giao chức năng, nhiệm vụ tống đạt nên khi thực hiện công việc tống đạt phải “chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của việc tống đạt, nếu tống đạt không đúng thì không được thanh toán chi phí, phải thực hiện việc tống đạt lại, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”[4].
Thứ hai, khi đương sự từ chối nhận văn bản, thừa phát lại lập biên bản ghi nhận việc từ chối thì xem như đã hoàn thành việc tống đạt mà không thực hiện thủ tục niêm yết. Niêm yết văn bản là phương thức dự phòng buộc phải thực hiện khi áp dụng các biện pháp để thông báo trực tiếp cho đương sự mà không được. Hiện nay, trường hợp tống đạt văn bản tố tụng hình sự và thông báo thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận thì không phải niêm yết[5]. Nếu đương sự từ chối nhận văn bản tố tụng dân sự, hành chính thì do pháp luật chưa quy định rõ ràng nên việc niêm yết hay không tùy quan điểm của Tòa án, thẩm phán thụ lý hồ sơ[6]. Theo tác giả, việc tống đạt văn bản nhằm mục đích để đương sự biết được nội dung văn bản để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Nếu văn bản cần tống đạt có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì đương sự có nghĩa vụ nhận để nắm nội dung và thực hiện. Ngược lại, đương sự có quyền khiếu nại, khiếu kiện cơ quan ban hành văn bản. Việc đương sự đã trực tiếp gặp người đi tống đạt, biết được người này đến để giao, thông báo cho mình văn bản về vấn đề gì nhưng từ chối nhận văn bản là xem thường pháp luật, xem thường Tòa án và cơ quan thi hành án đồng thời đã chối bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Do đó, chúng ta cần xem đây là trường hợp đương sự đã được tống đạt hợp lệ mà không cần phải tiến hành thêm phương thức niêm yết.
Thứ ba, về điều kiện niêm yết văn bản, người tiến hành tống đạt phải đến địa chỉ cần tống đạt tối thiểu 02 lần và cách nhau một quãng thời gian đủ dài nhất định. Điều này nhằm chứng minh rằng, văn phòng thừa phát lại đã cố gắng thực hiện việc tống đạt trực tiếp cho đương sự đến cùng nhưng không thể thực hiện, làm cơ sở áp dụng biện pháp niêm yết. Ở nước Pháp, khi đến lần đầu tiên mà không gặp, thừa phát lại sẽ để lại một thông báo (thư) của thừa phát lại để đương sự liên hệ văn phòng thừa phát lại nhận văn bản[7].
Thứ tư, khi tống đạt thừa phát lại cần phải có hình ảnh chụp lại để đính kèm vào biên bản. Đây được xem là một “vi bằng” mà thừa phát lại lập nhằm ghi nhận lại hành vi của chính mình đi tống đạt văn bản cho Tòa án, thông báo thi hành án cho cơ quan thi hành án. Pháp luật hiện hành quy định biên bản tống đạt, niêm yết phải có sự chứng kiến, xác nhận của đại diện chính quyền địa phương nhằm mục đích xác thực hoạt động tống đạt là có thật. Nay, áp dụng việc chụp hình lại đính kèm vào biên bản là có thể thay thế việc xác thực này.
Thứ năm, quy định chi tiết các chế tài và áp dụng nghiêm các chế tài nhằm xử lý các hành vi cản trở trong việc tống đạt. Hiện nay, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 không quy định về xử lý hành vi cản trở thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo trái quy định. Chỉ có Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 493) và Luật tố tụng hành chính năm 2015 (Điều 322) có quy định xử lý hành vi cản trở việc giao, nhận, cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng của Tòa án sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự. Tuy nhiên, chưa có văn bản pháp luật nào quy định chi tiết hình thức xử lý tương ứng với từng mức độ hành vi vi phạm nên quy định này chỉ nằm trên giấy mà không có cơ chế thực hiện. Do đó, tác giả kiến nghị bổ sung quy định về mức xử phạt các hành vi này nhằm nâng cao hiệu quả tống đạt.
Trên đây là các nội dung chủ yếu mà tác giả kiến nghị liên quan đến việc thiết lập một quy trình riêng về hoạt động tống đạt qua thừa phát lại. Đây là một đề xuất táo bạo và dễ dẫn đến nhiều ý kiến tranh luận trái chiều. Tuy nhiên, tác giả vẫn bảo lưu quan điểm của mình. Các bất cập về quy trình tống đạt hiện tại đồng thời với sự xuất hiện của một chủ thể hoàn toàn mới chuyên trách việc tống đạt thì cơ chế, thủ tục tống đạt cũng cần thay đổi cho phù hợp.



[1] Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2014), “Tham luận: Thừa phát lại – những vướng mắc từ thực tiễn hoạt động của Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Hội thảo thừa phát lại: Những vướng mắc từ thực tiễn, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.51.
[2] Nguyễn Tiến Pháp (2013), “Kinh nghiệm tổ chức, quản lý văn phòng thừa phát lại”, Tài liệu tập huấn cho một số chấp hành viên, cán bộ tư pháp tại các tỉnh, thành phố mở rộng thí điểm chế định thừa phát lại do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 19-20/12/2013, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.50.
[3] Văn phòng thừa phát lại Quận 10 (2012), “Tham luận chuyên đề hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại”, Tài liệu hội nghị tổng kết thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03/8/2012, Bộ Tư pháp – UBND Thành phố Hồ Chí Minh, tr.79.
[4] Báo cáo tổng kết về tổ chức và hoạt động của văn phòng thừa phát lại Quận 1 tại Hội nghị tổng kết thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03/8/2012 do Bộ Tư pháp tổ chức, tr.72.
[5] Khoản 3 Điều 138, Khoản 1 Điều 140 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 4 Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015.
[6] Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 106 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[7] Bộ Tư pháp (2015), “Giới thiệu nghề thừa phát lại ở Cộng hòa Pháp”, Tài liệu tọa đàm về thừa phát lại ngày 17/8/2015, Hà Nội, tr.6.
Nguồn: Luận văn "Hoạt động tống đạt của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam" - Lê Thị Hương, 2019, Đại học Kinh tế - Luật.

06/09/2019

Khai trương VP Thừa phát lại Bảo Lộc

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Sáng ngày 6/9, Văn phòng Thừa phát lại TP. Bảo Lộc (Lâm Đồng) đã tổ chức Lễ khai trương và chính thức đi vào hoạt động. Tham dự lễ có các đại biểu UBND, Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan của tỉnh và TP. Bảo Lộc.
Văn phòng Thừa phát lại Bảo Lộc có trụ sở tại Lô 55 CH2A đường Nguyễn Công Trứ, phường 1, TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng do ông Đoàn Xuân Đạt là Trưởng Văn phòng; được thành lập theo Quyết định số 1803/QĐ-UBND của UBND tỉnh ký ngày 23/8/2019.


Đây là Văn phòng Thừa phát lại đầu tiên tại tỉnh Lâm Đồng, được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp hợp danh, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.
Theo quy định của pháp luật hiện nay, Thừa phát lại là một nghề độc lập, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, không phải là nhân viên nhà nước nhưng được Nhà nước bổ nhiệm, trao quyền để thực hiện một số công việc như: Tống đạt văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, tòa án; xác minh điều kiện thi hành án dân sự; trực tiếp thi hành bản án, quyết định của tòa án; lập vi bằng, chứng cứ theo yêu cầu và tư vấn pháp luật cho mọi thành phần kinh tế…
Việc thành lập Văn phòng Thừa phát lại là một hình thức xã hội hóa công tác thi hành án theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần giảm tải công việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của TAND và Cơ quan Thi hành án dân sự.
Mặt khác, với chức năng lập vi bằng của Thừa phát lại sẽ bổ sung nguồn chứng cứ, tạo thêm công cụ pháp lý vững chắc giúp người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế và trong giải quyết tranh chấp; đồng thời người dân cũng có thêm lựa chọn phù hợp trong việc yêu cầu thi hành bản án, quyết định của TAND.

07/08/2019

Quy định về đăng ký vi bằng và kiến nghị

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại – Chế định thừa phát lại đã được áp dụng chính thức trên cả nước từ ngày 01/01/2016. Tuy nhiên, cho đến nay, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này đều được ban hành từ thời gian thí điểm. Do đó, một số quy định bộc lộ những hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn của hoạt động thừa phát lại hiện tại. Trong đó, nổi bật là công tác đăng ký vi bằng. Để giúp mọi người hiểu hơn về vấn đề này, Hoài xin có một số trao đổi dưới đây. Thuật ngữ “Dự thảo Nghị định về thừa phát lại” được sử dụng trong bài viết này là bản Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động thừa phát lại đăng tải tại Trang Thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (http://moj.gov.vn/dtvb/pages/chi-tiet.aspx?itemid=321, truy cập lần cuối ngày 07/8/2019.
Quy định pháp luật hiện tại về đăng ký vi bằng
Theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 thì sau khi lập vi bằng, văn phòng thừa phát lại phải gửi 01 bản chính đến Sở Tư pháp nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc. Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng thừa phát lại. Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng hoặc vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định.
blog thua phat lai
Một Thông báo xác nhận vi bằng đã được đăng ký hợp lệ tại Sở Tư pháp
(Nguồn: thuaphatlaithuduc.vn)
Vi bằng sau khi được lập xong phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền là một thủ tục cần thiết, bởi vì: Thứ nhất, chế định thừa phát lại vừa mới được triển khai, số lượng văn bản pháp luật đều chỉnh còn ít nên rất dễ xảy ra những thiếu sót về mặt nghiệp vụ, do đó cần một cơ chế kiểm tra, giám sát để giúp hoàn thiện nghiệp vụ; thứ hai, chế định này chưa được biết đến rộng rãi, chưa tạo được niềm tin vững chắc trong toàn bộ người dân lẫn cơ quan Nhà nước nên cần có sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước như một hình thức “bảo chứng” cho giá trị của vi bằng; thứ ba, hoạt động lập vi bằng có mục đích là xác lập chứng cứ một cách nhanh chóng, kịp thời để sử dụng trong tố tụng và trong các quan hệ pháp lý khác. Thay đổi thời điểm xảy ra các sự kiện, hành vi được nêu trong vi bằng có thể dẫn đến việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Vậy nên, thủ tục đăng ký vi bằng như một hình thức mà Nhà nước sử dụng nhằm giám sát các mốc thời gian được nêu trong nội dung vi bằng, tránh sự ngụy tạo chứng cứ.
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi thẩm quyền của Sở Tư pháp trong hoạt động đăng ký vi bằng. Quan điểm thứ nhất cho rằng, hoạt động đăng ký vi bằng là cần thiết, là hình thức để Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại nhưng việc đăng ký vi bằng chỉ nên dừng lại ở mặt thủ tục mà không không “kiểm soát nội dung vi bằng[1]. Phần nội dung nên để thừa phát lại tự chịu trách nhiệm bởi chính thừa phát lại chứ không phải đại diện của Sở Tư pháp là người chứng kiến sự việc, xác lập vi bằng. Do đó, Nhà nước nên để thừa phát lại chịu trách nhiệm về vi bằng do mình lập trước pháp luật và quản lý nội dung vi bằng thông qua các quy định rõ ràng, chi tiết về các trường hợp được lập vi bằng để thừa phát lại thực hiện. Thậm chí, có Sở Tư pháp còn mạnh dạn đề xuất việc đăng ký vi bằng tại Sở Tư pháp chỉ đăng ký “về hình thức ngày, tháng để tránh việc ngụy tạo chứng cứ”[2]. Quan điểm thứ hai cho rằng, nên tiếp tục duy trì việc xem xét về phạm vi và thẩm quyền lập vi bằng khi đăng ký để kiểm soát hoạt động này[3]. Quan điểm thứ ba thì đề nghị, Nhà nước nên bỏ thủ tục đăng ký vi bằng[4],[5].
Tác giả ủng hộ quan điểm quan điểm thứ nhất tức Sở Tư pháp vẫn là đầu mối, đại diện Nhà nước tiếp nhận hồ sơ đăng ký vi bằng để kiểm tra, giám sát hoạt động này nhưng khi tiếp nhận vi bằng, Sở Tư pháp chỉ kiểm tra về hình thức, phạm vi địa hạt lập vi bằng, còn về nội dung vi bằng, thừa phát lại là người chịu trách nhiệm. Bởi vì:
Thứ nhất, người trực tiếp chứng kiến hành vi, sự kiện nêu trong vi bằng là thừa phát lại mà không phải là đại diện Sở Tư pháp. Chủ thể không trực tiếp chứng kiện sự kiện, hành vi thì khó có ý kiến đánh giá về các sự trùng khớp nội dung vi bằng với sự việc diễn ra trên thực tế.
Thứ hai, về nguyên tắc, khi Nhà nước giao nhiệm vụ, quyền hạn cho một chủ thể nhất định mà chủ thể này thực hiện không đúng, gây thiệt hại cho chủ thể khác thì phải bồi thường. Nhà nước giao Sở Tư pháp quyền kiểm soát nội dung của vi bằng thì phải quy định trách nhiệm của Sở Tư pháp khi từ chối đăng ký một vi bằng hợp lệ hoặc chấp thuận đăng ký một vi bằng có vi phạm. Tuy nhiên, rất khó để ràng buộc trách nhiệm của Sở Tư pháp trong trường hợp này vì hoạt động lập vi bằng do tư nhân thực hiện, thu phí dịch vụ và không nộp các khoản phí này về ngân sách nhà nước ngoại trừ nghĩa vụ nộp thuế theo quy định. Hiện nay, Sở Tư pháp không thu bất kỳ khoản phí nào liên quan đến hoạt động lập vi bằng. Dù sắp tới có thể có lệ phí đăng ký vi bằng nhưng về bản chất, phí này chỉ là phí tượng trưng để cơ quan nhà nước kiểm tra hồ sơ, bù đắp chi phí cơ sở vật chất lưu trữ vi bằng mà khó có thể được thu nhiều hơn vì vi bằng hoàn toàn là kết quả làm việc của thừa phát lại.
Các bất cập và kiến nghị khắc phục
Thứ nhất, thời hạn đăng ký vi bằng đang có sự bất cập. Theo quy định, việc đăng ký vi bằng phải thực hiện “trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng”. Khái niệm “ngày lập vi bằng” ở đây được hiểu là ngày xảy ra sự kiện, hành vi được thừa phát lại chứng kiến, lập vi bằng hoặc ngày kết thúc nếu sự kiện, hành vi đó diễn ra từ hai ngày trở lên. Trên thực tiễn, đối tượng lập vi bằng rất đa dạng, có thể đơn giản hoặc phức tạp. Do đó, thời gian lập vi bằng có thể ngắn hoặc dài. Tại thời điểm lập vi bằng, thừa phát lại chỉ thực hiện các thao tác lập vi bằng như ghi chép các chi tiết, đo đạc, quay phim, chụp hình, ghi âm… mà chưa soạn thảo, hoàn thiện vi bằng. Đối với những vi bằng phức tạp, kéo dài thì thời gian soạn thảo, hoàn thiện vi bằng có thể vượt quá thời hạn đăng ký vi bằng. Điều này dẫn đến việc văn phòng thừa phát lại không kịp hoàn tất vi bằng để đăng ký đúng thời hạn theo quy định.
Ví dụ, theo yêu cầu của văn phòng luật sư P, văn phòng thừa phát lại quận Thủ Đức tiến hành lập vi bằng ghi nhận nội dung 193 đường dẫn website có nội dung vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đến lĩnh vực điện ảnh. Thời gian lập vi bằng tại hiện trường là 07 tiếng nhưng thời gian hoàn thiện vi bằng là 4 ngày với 50 trang vi bằng và nhiều tài liệu video, hình ảnh đính kèm[6]. Do đó, nếu áp dụng đúng quy định về thời hạn thì vi bằng này sẽ bị trễ hạn đăng ký.
Ngoài ra, ở một số địa phương có diện tích rộng thì thời hạn đăng ký vi bằng là hai ngày làm việc liệu đã hợp lý. Thời gian di chuyển và chờ hoàn tất thủ tục đăng ký vi bằng của các văn phòng thừa phát lại tại huyện miền núi, hải đảo đến Sở Tư pháp có thể mất một ngày. Bên cạnh đó, về lý thuyết, các văn phòng thừa phát lại tại các địa phương này sẽ ít khách hàng hơn các văn phòng ở khu đô thị trung tâm. Do đó, thời hạn đăng ký vi bằng ngắn cũng là một gánh nặng về chi phí, nhân lực và thời gian đối với các văn phòng này.
Điều 42 Dự thảo Nghị định về thừa phát lại đã nâng thời hạn đăng ký vi bằng lên thành năm ngày. Tác giả đồng tình với quy định mới về thời hạn nêu trong Dự thảo. Tuy nhiên, mốc thời gian để bắt đầu tính thời hạn trong Dự thảo Nghị định về thừa phát lại vẫn giữ nguyên là “ngày lập vi bằng”. Đối với những sự kiện, hành vi kéo dài, thừa phát lại chứng kiến, ghi nhận khối lượng lớn thông tin thì sẽ cần nhiều thời gian hoàn thiện vi bằng. Do đó, mốc thời gian để bắt đầu tính thời hạn cần quy định là ngày hoàn thiện vi bằng (soạn thảo, ký tên, đóng dấu). Tuy nhiên, thời gian hoàn thiện vi bằng phải được giới hạn trong một thời hạn hợp lý để tránh trường hợp thừa phát lại lạm dụng, kéo dài thời gian đăng ký vi bằng, ảnh hưởng đến việc sử dụng vi bằng của đương sự. Trường hợp khách hàng có nhu cầu nhận vi bằng sớm thì có thể thỏa thuận với văn phòng thừa phát lại trong hợp đồng dịch vụ.
blog thua phat lai
Hình ảnh 1 vi bằng
(Nguồn: doisongvietnam.vn)
Thứ hai, phương thức đăng ký vi bằng cũng đang có bất cập. Khoản 4, khoản 5 Điều 26 Nghị định số 61 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135 quy định văn phòng thừa phát lại chỉ phải gửi cho Sở Tư pháp một bản chính vi bằng để đăng ký. Việc Sở Tư pháp không đóng dấu xác nhận đã đăng ký trực tiếp trên ba bản chính vi bằng sẽ gây khó khăn cho người dân khi có nhu cầu sử dụng ngay tài liệu này bởi theo quy định thì vi bằng được xem là hợp lệ khi đã đăng ký tại Sở Tư pháp. Người dân khi sử dụng vi bằng đặc biệt là sử dụng tại Tòa án buộc phải chứng minh là vi bằng đã được đăng ký.
Ngoài ra, không loại trừ khả năng bản chính vi bằng đã đăng ký với bản chính vi bằng phát hành cho khách hàng sử dụng có nội dung không trùng khớp với nhau. Bởi lẽ, Sở Tư pháp chỉ được cung cấp một bản chính vi bằng để kiểm tra, xác nhận đăng ký. Khi cần chứng minh vi bằng đã được đăng ký, Tòa án không đối chiếu nội dung giữa ba bản chính vi bằng mà chỉ căn cứ trên văn bản xác nhận vi bằng đã được đăng ký do Sở Tư pháp cung cấp để xác định vi bằng được lập đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định để sử dụng.

Khoản 4 Điều 40, khoản 1 Điều 42 của Dự thảo Nghị định về thừa phát lại không quy định là các văn phòng thừa phát lại phải nộp tất cả bản chính vi bằng cho Sở Tư pháp để Sở Tư pháp kiểm tra và xác nhận việc đăng ký nên chưa giải quyết được các bất cập nêu trên. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 42 của Dự thảo Nghị định về thừa phát lại có một điểm mới, tiến bộ mà tác giả rất đồng tình là vi bằng có thể được đăng ký bằng hình thức trực tiếp hoặc qua đường bưu chính hoặc trực tuyến. Hiện nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, việc xây dựng một cơ sở dữ liệu điện tử về đăng ký và tra cứu vi bằng tương tự cơ sở dữ liệu điện tử về công chứng là khả thi. Hệ thống cơ sở dữ liệu về vi bằng phải đảm bảo không có sự can thiệp làm thay đổi nội dung của vi bằng đã cung cấp thông tin lên hệ thống, có sự phân quyền hợp lý, thuận tiện cho sử dụng, theo dõi, quản lý. Các văn phòng có thể sao chụp hồ sơ vi bằng và đăng ký qua cổng thông tin điện tử về vi bằng. Điều này sẽ tiết kiệm được kinh phí, nhân lực và thời gian cho cả văn phòng thừa phát lại lẫn Sở Tư pháp.
Trên cơ sở những bất cập về thời hạn và phương thức đăng ký vi bằng nêu trên, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 Điều 42 của Dự thảo Nghị định về thừa phát lại như sau:
1. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày hoàn thiện vi bằng, văn phòng Thừa phát lại phải gửi tất cả bản chính vi bằng đến Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở của văn phòng để thực hiện đăng ký theo hình thức trực tiếp hoặc qua đường bưu chính. Trường hợp chi nhánh, văn phòng đại diện lập vi bằng thì phải gửi vi bằng tới Sở Tư pháp, nơi đặt trụ sở của chi nhánh, văn phòng đại diện. Thời gian hoàn thiện vi bằng không được quá 05 ngày làm việc kể từ thời điểm kết thúc sự kiện, hành vi được lập vi bằng. Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được vi bằng, Sở Tư pháp căn cứ vào thẩm quyền, phạm vi, thời hạn gửi vi bằng để thực hiện việc xác nhận vi bằng đã được đăng ký trên tất cả bản chính vi bằng.
2. Các địa phương nghiên cứu thiết lập mạng thông tin đăng ký vi bằng trực tuyến để thực hiện thay thế cho hoạt động đăng ký vi bằng trực tiếp hoặc qua bưu điện nêu trên”.
Thứ ba, đó là bất cập về phạm vi thẩm quyền của Sở Tư pháp trong thủ tục đăng ký vi bằng. Theo quy định, vi bằng được xem là hợp lệ khi đã được đăng ký tại Sở Tư pháp. Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký, Sở Tư pháp vừa kiểm tra về mặt nội dung lẫn kiểm tra hình thức vi bằng. Nếu vi bằng được lập hợp pháp thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, Sở Tư pháp phải vào sổ đăng ký vi bằng, ngược lại, Sở Tư pháp phải từ chối đăng ký. Như vậy, Sở Tư pháp có vai trò rất quan trọng trong hoạt động lập vi bằng bởi có thể từ chối cho đăng ký một vi bằng dẫn đến vi bằng đó không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, Sở Tư pháp không phải là một trong các chủ thể tham gia, chứng kiến hoạt động lập vi bằng nên việc giao quyền kiểm tra nội dung vi bằng cho cơ quan này là không hợp lý.
Ngoài ra, pháp luật chưa quy định Sở Tư pháp có trách nhiệm như thế nào nếu từ chối đăng ký một vi bằng hợp lệ hoặc chấp thuận đăng ký một vi bằng có vi phạm. Điều này dẫn đến sự lúng túng của Sở Tư pháp trong hoạt động đăng ký vi bằng và nảy sinh tâm lý sợ trách nhiệm. Từ đó, “có dấu hiệu đặt thêm những thủ tục, biện pháp hạn chế thẩm quyền lập vi bằng của thừa phát lại, từ chối vi bằng của thừa phát lại không có cơ sở pháp lý đầy đủ, thậm chí có hiện tượng “cầm tay, chỉ việc” thừa phát lại khi lập và đăng ký vi bằng”[7]. Liên quan đến vấn đề này, tác giả đã có những phân tích tại mục 2.3.4.
Dự thảo Nghị định về thừa phát lại về cơ bản giữ nguyên quy định về việc từ chối đăng ký vi bằng nêu tại Khoản 9 Điều 2 Nghị định số 135, cụ thể như sau: Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu phát hiện thấy việc lập vi bằng không đúng thẩm quyền, không thuộc phạm vi lập vi bằng hoặc vi bằng được gửi không đúng thời hạn để đăng ký. Theo tác giả, từ chối đăng ký vi bằng là một quy định tiến bộ nhằm giúp Nhà nước kiểm tra, giám sát công việc lập vi bằng của thừa phát lại. Tuy nhiên, pháp luật nên quy định việc từ chối tiếp nhận đăng ký vi bằng theo hướng phù hợp hơn với khả năng của Sở Tư pháp và thực tiễn hoạt động lập vi bằng.
Tác giả đồng tình với quy định rằng, Sở Tư pháp từ chối đăng ký vi bằng nếu vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký; có vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư; trái đạo xã hội; vi bằng ghi nhận hành vi ký tên, điểm chỉ vào văn bản, hợp đồng, giao dịch mà theo quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Bởi vì đây là những vi phạm rõ ràng và dễ nhận biết.
Các trường hợp không thuộc thẩm quyền và phạm vi lập vi bằng được nêu tại Điều 38 của Dự thảo là các vi phạm dẫn đến vi bằng không có hiệu lực nhưng tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ đăng ký vi bằng, Sở Tư pháp không thể nhận biết ngay được mà phải thông qua hoạt động kiểm tra, xác minh hoặc tiếp nhận khiếu nại. Để vô hiệu hóa giá trị của vi bằng, chúng ta còn các cơ chế khác như giải quyết khiếu nại, yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 42 Dự thảo Nghị định về thừa phát lại như sau:
“3. Sở Tư pháp có quyền từ chối đăng ký nếu trong quá trình lập vi bằng, thừa phát lại có vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư; trái đạo xã hội; ghi nhận hành vi ký tên, điểm chỉ vào văn bản, hợp đồng, giao dịch mà theo quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực; vi bằng không được gửi đúng thời hạn để đăng ký theo quy định”.
Thứ tư, Sở Tư pháp đang phải bố trí số lượng lớn nhân sự, cơ sở vật chất cho hoạt động đăng ký vi bằng. Hiện nay, công việc chủ yếu của thừa phát lại là lập vi bằng và số lượng vi bằng được lập ngày càng nhiều. Ví dụ, vào năm 2016, Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận đăng ký hơn 27.000 vi bằng; vào năm 2017, con số đó tăng lên gần 56.000 vi bằng[8]. Như vậy, năm 2017, bình quân mỗi ngày làm việc, Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận đăng ký gần 180 vi bằng. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định về lệ phí cho hoạt động đăng ký vi bằng để giúp Sở Tư pháp các địa phương có nguồn thu, mở rộng cơ sở vật chất lưu trữ vi bằng. Hoạt động lập vi bằng là một hoạt động có thu, do tư nhân thực hiện. Trước đây, trong thời gian tổ chức thí điểm, cùng với các cơ chế khác để hỗ trợ các văn phòng thừa phát lại phát triển thì việc không thu lệ phí đăng ký vi bằng là hợp lý. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn áp dụng chính thức, việc thu lệ phí đăng ký vi bằng phải được thực hiện. Lệ phí đăng ký vi bằng có tính chất tương tự lệ phí mà tổ chức hành nghề công chứng phải trả để sử dụng cơ sở dữ liệu công chứng hoặc lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm.
Dự thảo Nghị định về thừa phát lại chưa có quy định về khoản phí này. Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị bổ sung quy định về việc văn phòng thừa phát lại phải đóng một khoản lệ phí khi đăng ký vi bằng.




[1] Nguyễn Tiến Pháp (2017), “Một số vấn đề góp ý về Dự thảo Nghị định tổ chức và hoạt động của thừa phát lại”, Hội thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại”, Quảng Ninh, ngày 16/03/2017.
[2] Sở Tư Pháp TP. Hà Nội (2017), Hội thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại”, Quảng Ninh, ngày 16/03/2017.
[3] Bộ Tư pháp (2016), “Tờ trình Nghị định về tổ chức và hoạt động thừa phát lại”, Hội thảo Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại”, TP. Hồ Chí Minh, ngày 08/12/2016.
[4] Lê Mạnh Hùng (2014), “Thực trạng hoạt động của chế định thừa phát lại trong thời gian qua, thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và kiến nghị”, Hội thảo thừa phát lại: Những vướng mắc từ thực tiễn, Báo pháp luật TP. Hồ Chí Minh, ngày 29/11/2014, tr.24.
[5] Bộ Tư pháp (2017), Báo cáo về thực trạng lập, đăng ký vi bằng và xử lý vi phạm hành chính trong tổ chức và hoạt động thừa phát lại, ngày 06/10/2017.
[6] Vi bằng số 317/2015/VB-TPLQ.TĐ ngày 23/9/2015 của văn phòng Thừa phát lại Quận Thủ Đức.
[7] Nguyễn Tiến Pháp (2014), “Thẩm quyền lập vi bằng của thừa phát lại và thủ tục đăng ký vi bằng”, Hội thảo thừa phát lại: Những vướng mắc từ thực tiễn, Báo pháp luật TP. Hồ Chí Minh, ngày 29/11/2014, tr.65.
[8] Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh. “Không được nhập nhằng khi lập vi bằng về nhà, đất”. Internet: http://plo.vn/phap-luat/khong-duoc-nhap-nhang-khi-lap-vi-bang-ve-nha-dat-769771.html, 13/6/2018.
Trích đăng từ: Luận văn "Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam" của tác giả bảo vệ tại Đại học kinh tế - Luật năm 2019.

05/08/2019

Bị nói xấu trên facebook nên nhờ thừa phát lại lập vi bằng

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại - Liên tục nói xấu, bôi nhọ, vu khống người khác lên mạng xã hội facebook P.H.Trang đã bị cơ quan công an mời lên làm việc nhiều lần.

Tại sao liên tục “vắng mặt”

Bức xúc vì hành vi bà P.H.Trang nói xấu mình trên mạng xã hội facebook với những lời lẽ khiếm nhã, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của mình lên facebook, bà Đ.V.Anh đã phải gửi Đơn tới cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm (Hà Nội) để cầu cứu và đề nghị giải quyết.
Trước khi sự việc đáng tiếc xảy ra, bà Đ.V.Anh và bà P.H.Trang (sn 1997, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội) có mối quan hệ kinh doanh với nhau.
Đến tháng 6/2019, giữa hai người có mâu thuẫn, nhưng đỉnh điểm là ngày 26/6/2019, bà P.H.Trang đã lên mạng xã hội facebook bôi nhọ, nói xấu, vu khống bà Đ.V.Anh. Nội dung này đã được Văn phòng Thừa phát lại Ba Đình thiết lập số 767/2019/VB-TPLBĐ ngày 1/7/2019. 

Ảnh chụp màn hình trang 7 tại Vi bằng số 767/2019/VB-TPLBĐ.
Trên mạng facebook bà P.H.Trang đã dùng những lời lẽ nhục mạ bà Đ.V.Anh. Không chỉ vậy, nhiều người không rõ ngọn nguồn câu chuyện lại tích cực bình luận, chia sẻ tiêu cực. “Tôi không ngờ rằng, cô ấy có thể làm việc xấu xa đến như vậy. Tôi đã bị khủng hoảng tâm lý rất nặng nề, công việc kinh doanh của tôi có phần đi xuống. Gia đình tôi và mẹ tôi tâm lý rất mệt mỏi sau vụ việc bà P.H.Trang đe doạ, mạt sát gia đình tôi. Bản thân tôi đang dưỡng thai, có thời gian tôi phải tái khám tại Bệnh viện thường xuyên do strees nặng nề”, bà Đ.V.Anh cho hay.

Bà P.H.Trang người bị bà Đ.V.Anh gửi Đơn tới cơ quan công an quận Nam Từ Liêm tố về việc bôi nhọ, nói xấu cá nhân mình lên facebook.
Để xác minh thông tin Pháp luật Plus đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Đạo – Đội phó Đội hình sự Công an quận NamTừ Liêm.
Tại buổi làm việc, Pháp luật Plus và phía cơ quan công an đã trao đổi kỹ, bàn luận nhiều nội dung liên quan đến Đơn thư của bà Đ.V.Anh.
Ông Nguyễn Đức Đạo cho hay: “Hiện Công an quận NamTừ Liêm đã mời bà P.H.Trang lên cơ quan Công an quận lên làm việc 3 lần vào các ngày 5/7/2019, 11/7/2019, 15/7/2019 nhưng bà Trang đều vắng mặt”.
Được biết, cả 3 lần cơ quan chức năng đã gửi Giấy mời tới địa chỉ cư trú của bà P.H.Trang, lần thứ 3 có gọi điện cho bà P.H.Trang nhưng bà Trang lấy lý do cá nhân nên vắng mặt.
Như vậy, có thể thấy, bà P.H.Trang đã vắng mặt khi cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm 3 lần mời lên làm việc để giải quyết Đơn thư có liên quan đến chính mình. 
Trụ sở công an quận Nam Từ Liêm (Hà Nội).
“Hiện đồng chí Đỗ Huy Cường - Công an phường Mỹ Đình 2 đã lập Biên bản về việc vắng nhà của bà P.H.Trang. Hiện tại, Đội điều tra hình sự đã tiếp nhận và sẽ tiến hành thủ tục phân công cho cán bộ”, ông Nguyễn Đức Đạo cho biết thêm.
Qua hành vi của P.H.Trang có thể thấy, việc vắng mặt khi cơ quan Công an mời lên làm việc là có chủ đích, kể cả có lý do. Giả thiết đặt ra là nếu P.H.Trang không liên quan đến vụ việc bôi nhọ, nói xấu bà Đ.V.Anh trên facebook thì tại sao phải “trốn tránh”? Tại sao không tích cực phối hợp với cơ quan công an khi được mời lên làm việc?
Bàn luận về nội dung, nếu xác định được đầy đủ các căn cứ phạm tội thì phía cơ quan Công an có đề nghị khởi tố vụ án hay không?
Đại diện cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm cho hay: “Phía Công an quận Nam Từ Liêm đã giao cho đồng chí Hoàng Minh Lâm làm tin báo tố giác tội phạm theo quy định và sẽ chuyển hồ sơ về Viện Kiểm sát để phối hợp thực hiện giải quyết nhưng tới nay chưa có kết quả.
Lý do chưa khởi tố được vụ án vì chưa triệu tập được bà P.H.Trang này lên, thứ 2 nữa là, phải xem lại toàn bộ quá trình hành vi ở các trang (trang mạng xã hội facebook) này. Sau đó, thống nhất với Viện Kiểm sát có khởi tố vụ án hay không khởi tố thì sẽ thông báo với quý báo sau.
Nếu đủ căn cứ khởi tố thì sẽ khởi tố hành vi vu khống. Nếu không đủ thì sẽ xử phạt hành chính theo Nghị định 167”.

Nói xấu người khác trên facebook… có thể đi tù 1-3 năm

Đăng tin, nói xấu người khác trên mạng xã hội hiện đã bị pháp luật nghiêm cấm. Vì vậy, nếu bạn đăng tin nói xấu người khác vì bất cứ lý do gì cũng là vi phạm pháp luật. Tùy theo mức độ, tính chất và hậu quả của hành vi vi phạm, bạn có thể bị xử phạt hành chính hoặc nặng hơn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Luật sư Vi Văn Diện – Giám đốc Công ty Luật TNHH Thiên Minh
Trao đổi với Pháp luật Plus, Luật sư Vi Văn Diện – Giám đốc Công ty Luật TNHH Thiên Minh cho hay: “Người sử dụng mạng xã hội facebook cần phải hiểu rằng những lời nói, viết xúc phạm, bôi nhọ người khác trên facebook là hành vi vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm.
Tùy theo mức độ mà có thể bị xử phạt hành chính; bị bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến uy tín, danh dự, nhân phẩm; nếu gây thiệt hại nghiêm trọng có thể bị xử lý hình sự ở các tội: làm nhục người khác (điều 155 Bộ Luật Hình sự 2015), với mức hình phạt: cảnh cáo, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm (khoản 1), từ 3 tháng đến 2 năm (khoản 2); từ 2 năm đến 5 năm (khoản 3);
Tội vu khống (điều 156 Bộ Luật Hình sự 2015) với mức hình phạt: phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm (khoản 1); phạt tù từ 1 năm đến 3 năm (khoản 2); phạt tù từ 3 năm đến 7 năm (khoản 3);
Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (điều 288 Bộ Luật Hình sự 2015) với mức hình phạt: cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1 tỷđồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm (khoản 2)”.

Vậy, khi bị xúc phạm, nói xấu trên facebook phải làm gì?

Theo Luật sư Vi Văn Diện, người bị xúc phạm cần thu thập bằng chứng thông qua việc nhờ Văn phòng thừa phát lại lập Vi bằng. Việc lập Vi bằng cần phải thực hiện ngay sau khi phát hiện có hành vi xâm phạm, vì nếu để lâu, những thông tin đó có thể bị gỡ bỏ, nhằm xóa dấu vết.
Sau khi lập Vi bằng, người bị xâm phạm về uy tín, danh dự có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho các văn phòng Luật, làm Đơn tố cáo gửi tới cơ quan Công an hoặc khởi kiện ra tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Bà Đ.V.Anh đến Văn phòng Thừa phát lại Ba Đình để lập Vi bằng.
Được biết, ông Lê Đức Anh người có quan hệ được gọi là “chồng” bà P.H. Trang cũng có liên quan đến một vụ hành hung người khác tại quận Nam Từ Liêm.
Sau 3 lần cơ quan Công an quận Nam Từ Liêm gửi Giấy triệu tập mời lên làm việc, nhưng Lê Đức Anh vắng mặt, cá nhân này cũng không có mặt tại nơi cư trú. Hiện, cơ quan này đã gửi Thông báo tìm người đến các cơ quan công an liên quan và tích cực điều tra vụ việc.
Nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam (Tiêu đề do người đăng đặt lại)

03/08/2019

Thừa phát lại Sóc Trăng tuyển dụng

- Không có nhận xét nào

Buổi ký Hợp đồng tống đạt giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng và VP Thừa phát lại Sóc Trăng
Blog Thừa phát lại – Văn phòng Thừa phát lại Sóc Trăng cần tuyển dụng:
Vị trí: Thư ký nghiệp vụ
YÊU CẦU CÔNG VIỆC- NAM.
- Tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật.
- Đạo đức tốt, nghiêm túc, tâm huyết với công việc.
- Có tinh thần trách nhiệm cao, trung thực, cận thận trong công việc.
- Nhanh nhẹn, linh hoạt, giao tiếp tốt, sức khoẻ tốt.
+ Số lượng: 2
* Hồ sơ gồm:
- Sơ yếu lý lịch tự thuật (có xác nhận)
- Đơn xin việc.
- CV.
- CMND, bằng cấp, chứng chỉ (bản sao chứng thực).
+ Hình thức nộp hồ sơ:
- Nộp trực tiếp tại Văn phòng số 396 Trần Hưng Đạo, Khóm 2, Phường 2, Thành phố Sóc Trăng.
PHÚC LỢI CÔNG VIỆC
- Lương theo thỏa thuận và phù hợp với năng lực làm việc.
- Được ký hợp đồng lao động dài hạn, đóng BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật.
- Thưởng theo kết quả làm việc.
- Phụ cấp, phúc lợi theo quy chế của Văn phòng.
- Được đào tạo nghề và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp.
- Cơ hội làm việc lâu dài ổn định.
Thông tin liên hệ:
Văn Phòng Thừa Phát Lại Sóc Trăng
Số 396, Trần Hưng Đạo - Phường 2 - Thành phố Sóc Trăng - Sóc Trăng
Nguồn: Nhân lực ngành luật

Thừa phát lại An-giê-ri

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri hiện được điều chỉnh bởi Luật về tổ chức nghề thừa phát lại năm 2006. Đạo luật này gồm 68 điều được chia thành 5 chương: Chương 1 “Những quy định chung” (từ Điều 1 tới Điều 7). Chương 2 “Gia nhập nghề thừa phát lại và phương thức hành nghề” (từ Điều 8 đến Điều 38). Chương 3 “Tổ chức nghề thừa phát lại và việc thanh tra, kiểm tra” (từ Điều 39 đến Điều 48). Chương 4 “Kỷ luật” (từ Điều 49 đến Điều 63). Chương 5 “Các quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành” (từ Điều 64 đến Điều 68).
Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri chính thức được thành lập năm 1991, thừa phát lại khi đó được chuyển đổi từ các nhân viên lục sự (các thư ký Tòa án). Như vậy, nghề thừa phát lại ở An-giê-ri cũng phải trải qua giai đoạn chuyển đổi từ nhà nước thành tư nhân. Ban đầu cũng gặp rất nhiều nghi ngại nhưng đến nay, thừa phát lại trở thành nghề trụ cột trong hệ thống tư pháp ở An-giê-ri, có mối quan hệ phối hợp rất tốt với các cơ quan, tổ chức khác cũng như với các nghề tư pháp khác.
Nghề thừa phát lại ở An-giê-ri là một nghề tự do nhưng thừa phát lại thì được coi là “công lại”. Người muốn hành nghề thừa phát lại phải là cử nhân luật, có chứng chỉ đào tạo thừa phát lại, trải qua 02 năm tập sự và phải vượt qua kỳ thi tuyển. Người hành nghề thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
Thừa phát lại An-giê-ri đang thi hành án (Nguồn: www.alg24.net/)
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại được quy định trong Luật về tổ chức nghề thừa phát lại năm 2006 và trong luật tố tụng dân sự là rất rộng. Theo đó, thừa phát lại có trách nhiệm: (i) thi hành các phán quyết dân sự của tòa án (có quyền bán đấu giá tài sản thi hành án theo quy định của luật tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu thẩm phán giải thích về bản án dân sự, công tố viên giải thích bản án hình sự); (ii) tống đạt giấy tờ của tòa án (dân sự, hành chính và cả hình sự), của cá nhân, tổ chức (văn bản thực hiện nghĩa vụ pháp lý của Ngân hàng, công chứng…), văn bản tương trợ tư pháp; (iii) lập vi bằng (theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân đối với tài sản của chính người yêu cầu và chỉ định của Tòa án cũng như các cơ quan nhà nước đối với tài sản là bất động sản của người thứ 3); đặc biệt còn được tham gia vào quá trình tố tụng. Gần đây, thừa phát lại còn được bổ sung thêm một nhiệm vụ, quyền hạn nữa là giám sát việc bỏ phiếu ở các cuộc bầu cử. Mức phí dịch vụ thừa phát lại được ấn định cụ thể, không được quyền thỏa thuận. Tỷ lệ thi hành án (do thừa phát lại thực hiện) đạt trên 90%, trung bình một vụ thi hành án trong 03 tháng, tối đa theo quy định là 06 tháng.
Hiện tại, số lượng người hành nghề thừa phát lại ở An-giê-ri là 1.500 người, sắp tới sẽ tổ chức thêm 1 kỳ thi quốc gia, bổ sung thêm khoảng 1.500 thừa phát lại nữa. Bộ Tư pháp An-giê-ri đang có đề án thành lập trường đào tạo thừa phát lại riêng. Trước khi hành nghề, thừa phát lại cũng phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
Văn phòng thừa phát lại ở An-giê-ri có thể do một hoặc nhiều thừa phát lại thành lập, hoạt động tương ứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh (có văn phòng, cơ sở vật chất, thư ký nghiệp vụ…). Các văn phòng thừa phát lại không được quảng cáo về dịch vụ của mình.
Hội đồng thừa phát lại Quốc gia An-giê-ri bao gồm 25 thành viên (kể cả Chủ tịch), có 03 Văn phòng thừa phát lại vùng quản lý các Văn phòng thừa phát lại và chịu sự quản lý trực tiếp của Hội đồng thừa phát lại quốc gia (mỗi Văn phòng thừa phát lại vùng sẽ cử ra 15 thừa phát lại để bầu lấy 8 thừa phát lại tham gia vào Hội đồng thừa phát lại Quốc gia). Thừa phát lại An-giê-ri đã gia nhập Liên minh thừa phát lại quốc tế./.
Nguồn: Học luật

Thừa phát lại Long An: Tống đạt văn bản dần đi vào ổn định

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại Sau khi chính thức đi vào hoạt động, đến nay, việc tống đạt văn bản của Văn phòng Thừa phát lại (VPTPL) Long An dần đi vào ổn định, giúp cho hoạt động tư pháp trên lĩnh vực tống đạt văn bản, được nhanh chóng, kịp thời.
Thừa phát lại Long An đang làm việc với Tòa án TP. Tân An
6 tháng đầu năm 2019, VPTPL Long An đã tống đạt 3.609 văn bản. Tổng số tiền chi phí cho công tác tống đạt văn bản là 457,8 triệu đồng.
Trên địa bàn TP.Tân An, công tác tống đạt văn bản được thực hiện tương đối thuận lợi do cán bộ tư pháp, UBND các phường, xã đã nắm chắc Nghị định về Thừa phát lại.
Theo số liệu của TAND TP.Tân An, từ đầu năm đến nay, TAND TP.Tân An phối hợp VPTPL Long An tống đạt trên 1.400 văn bản. Riêng trong tháng 6/2019, VPTPL Long An tống đạt 262 văn bản liên quan đến hoạt động xét xử, hòa giải,… của tòa án, chỉ có 2 văn bản phải trả lại.
Theo Chánh án TAND TP.Tân An - Huỳnh Thị Phượng, từ khi phối hợp VPTPL Long An, công tác tống đạt văn bản có nhiều thuận lợi, các thư ký Tòa án có thời gian giải quyết công việc khác.
Tuy nhiên, theo đại diện VPTPL Long An, khó khăn trong công tác tống đạt văn bản hiện nay là một số văn bản chưa cụ thể, thiếu địa chỉ số nhà của đương sự, đại diện chính quyền cơ sở một số nơi chưa hợp tác chặt chẽ với thư ký làm nhiệm vụ tống đạt.
Trưởng VPTPL Long An - Lê Tấn Phát chia sẻ: “Do công tác tống đạt văn bản thông qua VPTPL ở Long An còn mới, nên VPTPL Long An rất mong được sự hỗ trợ của các cấp chính quyền, cán bộ tư pháp, công an các xã, thị trấn và các trưởng khu phố, qua đó giúp cho các thư ký VPTPL hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện tốt công tác cải cách tư pháp.”./.

02/08/2019

Thừa phát lại là ai, vi bằng là gì?

- Không có nhận xét nào
Blog Thừa phát lại - Nhiều đọc giả vẫn thắc mắc, không hiểu về chức danh "thừa phát lại", khái niệm "vi bằng". Ở bài viết này, Hoài sẽ chia sẻ chi tiết.
Khái niệm thừa phát lại
Thuật ngữ “thừa phát lại” là một thuật ngữ có gốc Hán - Việt. “Thừa” có nghĩa là “thừa lệnh, tuân theo lệnh của cấp trên”; “phát” có nghĩa là “phát ra, gửi đi hoặc giao cho ai vật gì”; “lại” nghĩa là “công lại”. Theo “Hán – Việt từ điển” của Đào Duy Anh thì thừa phát lại là “người thuộc lại của Tòa án sơ cấp hay Tòa án địa phương, giữ việc phát tống các văn thư, chấp hành điều phán quyết của Tòa án, hay là thu một sản vật”[1]. Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì thừa phát lại là “Viên chức chuyên việc chuyển đạt mệnh lệnh của toà trong việc thi hành các bản án”[2]. Từ điển Tiếng Việt thì định nghĩa thừa phát lại là “Trưởng toà, người có tư cách chuyển đạt, thi hành các án toà, lập vi bằng những vụ phạm phép tại trận[3].
Dưới góc độ luật học, thừa phát lại được định nghĩa là “Viên chức chuyên việc tống đạt giấy tờ và thi hành phán quyết của Toà án hay thu hồi một sản vật[4].
Tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng các tài liệu nêu trên đều định nghĩa thừa phát lại là người không phải là “công lại”, không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước nhưng lại thực hiện một số công việc mang tính chất quyền lực nhà nước. Đây được xem là một chức danh phụ tá pháp lý cho Toà án.
Dưới góc độ quy định của pháp luật, khoản 1 Điều 2 Nghị định số 61 quy định: “Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan”. Theo quy định này, chức danh thừa phát lại mang hai đặc trưng: Thứ nhất, đây là người được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo trình tự, thủ tục nhất định khi đáp ứng tiêu chuẩn quy định; thứ hai, thừa phát lại là người thực hiện các công việc mang tính quyền lực Nhà nước gồm thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác[5].
thừa phát lại là gì
Thừa phát lại đang tư vấn cho khách hàng (Nguồn: Báo Vĩnh Phúc)

Khái niệm vi bằng
Đây là một thuật ngữ được sử dụng từ thời điểm chế định thừa phát lại mới du nhập vào nước ta thời Pháp thuộc. Đến khi chế định thừa phát lại được áp dụng trở lại ở nước ta, thuật ngữ này vẫn được tiếp tục sử dụng. Theo Từ điển Tiếng Việt thì vi bằng có nghĩa động từ là “làm bằng, dùng làm chứng cứ”, nghĩa danh từ là “Biên bản, tờ giấy ghi qua một việc vừa xảy ra với tất cả chi tiết, có chữ ký tên của những người chứng và nhà đương cuộc[6]. Từ điển Hán – Việt hiện đại cũng có quan điểm tương tự khi định nghĩa vi bằng là “dùng làm bằng chứng[7].
Căn cứ vào Điều 2 Nghị định số 61, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135 thì “vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”. Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 61 cũng quy định “vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực”.
Từ phân tích trên, hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại là hoạt động của tổ chức có tính chất công nhằm ghi nhận, chứng kiến các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của khách hàng theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định.

khái niệm vi bằng
Một bản vi bằng (Nguồn: Thừa phát lại Thủ Đức)


[1] Đào Duy Anh (1975), Hán – Việt từ điển, Nxb Trường Thi in lần ba, Sài Gòn, tr.467.
[2] Nguyễn Như Ý (chủ biên), (2013), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1554.
[3] Viện Ngôn Ngữ (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, tr.977-978.
[4] Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.756.
[5] Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của Chính phủ.
[6] Viện Ngôn Ngữ (2007), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, tr.1149.
[7] Trần Thị Thanh Liêm (2007), Từ điển Hán - Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, tr.782.
Nguồn: Trích Luận văn "Hoạt động lập vi bằng của Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Hoàng Đức Hoài, bảo vệ tại Đại học kinh tế - Luật năm 2019.