Vi bằng hot

Hình ảnh chủ đề của Storman. Được tạo bởi Blogger.

Categories

Recent in vibang

Home Ads

Tags

Mẫu vi bằng

Random Posts

Hiển thị các bài đăng có nhãn tuvanluat. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tuvanluat. Hiển thị tất cả bài đăng

23/06/2013

Chung sống trước ngày 3-1-1987 là hôn nhân thực tế?

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, hiện nhiều thẩm phán đang có cách hiểu khác nhau khi vận dụng Điều 3 Nghị quyết 35 năm 2000 của Quốc hội.
 Có người nói nam nữ cứ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 là hôn nhân thực tế, có người lại bảo phải đủ điều kiện kết hôn mới được công nhận…Một ví dụ tiêu biểu đã được đưa ra: Ông A chung sống với bà B nhiều năm, đã có con chung và tài sản chung. Đến năm 1970, ông A lấy thêm vợ lẽ là bà C (có tổ chức cưới hỏi), sau đó sống với bà C. Năm 2002, ông A xin ly hôn bà C. Vậy quan hệ giữa ông và bà C có phải là hôn nhân thực tế hay không?
Chỉ cần chung sống như vợ chồng?
Những thẩm phán theo cách hiểu thứ nhất cho rằng trong trường hợp này, quan hệ giữa ông A và bà C vẫn được công nhận là hôn nhân thực tế dù vừa vi phạm về hình thức (không đăng ký kết hôn) vừa vi phạm về nội dung (ông A đã có vợ hợp pháp là bà B).
Các thẩm phán lý giải: Theo Điều 3 Nghị quyết 35, hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực) nhưng không đăng ký kết hôn thì được tòa công nhận là vợ chồng khi ly hôn. Như vậy, điều khoản trên không hề quy định nam nữ sống với nhau như vợ chồng phải có đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình.
Vì luật không quy định nên các thẩm phán cho rằng chỉ cần điều kiện duy nhất là hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 thì công nhận họ là vợ chồng mà không cần điều kiện gì khác. Luật pháp không bắt buộc mà chỉ khuyến khích họ đi đăng ký kết hôn nên giả sử họ không đăng ký thì thực chất họ vẫn có mối quan hệ vợ chồng.
Một phiên tòa xử ly hôn tại TAND quận 10, TP.HCM. Ảnh minh họa: HTD
Hay phải đủ các điều kiện kết hôn?
Ngược lại, nhiều thẩm phán khác không đồng tình với cách hiểu trên. Theo họ, ông A và bà C sẽ không được công nhận là vợ chồng dù hai bên có tổ chức cưới hỏi đàng hoàng, có sống chung từ năm 1970 bởi ông A đang có vợ là bà B.
Theo các thẩm phán, Điều 3 Nghị quyết 35 chỉ châm chước cho các trường hợp sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 mà vi phạm điều kiện về hình thức là chưa đăng ký kết hôn; còn về nội dung phải thì tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1960 (Trừ những trường hợp cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc trước giải phóng lấy tiếp vợ hai, đã có thông tư hướng dẫn riêng).
Tòa Dân sự TAND Tối cao đồng ý với quan điểm này vì Điều 35 Nghị quyết 35 không yêu cầu có đủ điều kiện kết hôn cũng không có nghĩa là không cần tuân thủ điều kiện khi kết hôn. Theo Tòa Dân sự, thẩm phán hiểu khái niệm không quy định điều kiện kết hôn đồng nghĩa với khái niệm không cần đủ điều kiện kết hôn là máy móc và không chính xác. Đánh đồng hai khái niệm trên sẽ dẫn đến chuyện áp dụng pháp luật thiếu thống nhất.
Mặt khác, Tòa Dân sự cho rằng nếu áp dụng theo quan điểm thứ nhất thì rất khó xử lý những trường hợp đặc biệt như những người cùng dòng máu về trực hệ như cha, con, anh em; cha mẹ nuôi với con nuôi. Tương tự là giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; cha dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng; những người có họ trong phạm vi ba đời... Bởi thực tế có trường hợp thuộc một trong các trường hợp trên sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, thực sự chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ nhau nhưng làm sao có thể công nhận họ là vợ chồng được!
Theo một lãnh đạo Tòa Dân sự, luật hôn nhân và gia đình các năm 1960, 1986 và 2000 đều quy định hôn nhân muốn được coi là hợp pháp trước hết phải thỏa mãn các điều kiện kết hôn, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, Điều 3 Nghị quyết 35 của Quốc hội cũng không thể thoát ly ngoài các quy định đó.
Không chỉ dựa vào câu chữ
Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, khi tìm hiểu, giải thích pháp luật, để đảm bảo tính chính xác và không mâu thuẫn với quy định khác thì không chỉ căn cứ vào câu chữ cụ thể mà còn phải tổng hợp các quy định về các vấn đề đó. Có như vậy mới đảm bảo tính ổn định và thống nhất trong việc giải thích và áp dụng pháp luật, không rơi vào chuyện áp dụng máy móc, trái thực tế, trái đạo đức.
Không thể vi phạm điều kiện về nội dung
Tôi cho rằng trong trường hợp hai người sống với nhau nhưng vi phạm điều kiện kết hôn về nội dung như đang có vợ (chồng) hoặc vi phạm đạo đức thì không nên công nhận hôn nhân thực tế cho họ. Nếu có tranh chấp thì tòa chỉ nên giải quyết về vấn đề tài sản hoặc con chung cho họ.
Nếu chấp nhận một cách dễ dãi theo kiểu luật không quy định điều kiện theo quan điểm thứ nhất thì sẽ có người được công nhận nhiều hôn nhân một lúc, gây nhiều khó khăn, rắc rối khi giải quyết hậu quả phát sinh.
(Thẩm phán HOÀNG VĂN HẢI, Phó Chánh án TAND tỉnh Tây Ninh)
Phải hiểu đúng tinh thần nghị quyết
Theo tôi, phải hiểu theo cách thứ hai mới đúng tinh thần Nghị quyết 35 bởi ngoài các điều kiện về mốc thời gian nêu trên thì phải có đủ điều kiện kết hôn mới có thể coi là hôn nhân thực tế. Điều kiện kết hôn ở đây có thể hiểu là yếu tố đương nhiên cho một cuộc hôn nhân có ý nghĩa.
Tôi nghĩ chẳng ai máy móc mà công nhận vợ chồng cho những người thiếu năng lực hành vi hoặc có quan hệ họ hàng gần gũi, có dòng máu trực hệ với nhau cả.
Đức Hoài
(Theo Pháp luật Thành phố)

20/06/2013

Ba kẽ hỡ trốn thuế TNCN!

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Dưới đây là ba chiêu mà người chuyển nhượng quyền sử dụng đấy dùng để lách Thuế TNCN
Quy định của Luật Thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS là khá thông thoáng, thể hiện rõ xu hướng cải cách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển nhượng BĐS, góp phần làm cho thị trường BĐS sôi động và phát triển. Nhưng trên thực tế thì không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng này để lách luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho NSNN. Các hành vi lách luật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức.
Tự khai là tài sản duy nhất
 Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng BĐS tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng;  công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho NSNN.
 Người dân nộp thuế tại điểm thu 22 Lý Thái Tổ
Hạ giá chuyển nhượng
 Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định.
Thực tế trên thị trường BĐS, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế. Và để được cơ quan Nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá UBND tỉnh, TP quy định. Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế.
Ví dụ: Ông A bán một lô đất giá thực tế mua bán là 2 tỷ đồng, giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 1,5 tỷ đồng (tương đương giá đất do UBND tỉnh quy định) thì số thuế TNCN sẽ bị thất thu là:
( 2tỷ đồng    -   1,5 tỷ đồng)   x   2%    =  10 triệu đồng.
Đây chỉ là một trường hợp với giá trị mua bán không lớn. Trên thực tế, mỗi ngày có biết bao giao dịch diễn ra với giá trị mỗi giao dịch lên đến hàng chục tỷ đồng  thì chắc chắn số thuế thất thu là rất lớn, nhất là thời điểm BĐS đang “sốt” như hiện nay.
Chuyển nhượng bắc cầu
Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN quy định: “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế.  
Cụ thể, hai chị em dâu chuyển nhượng BĐS cho nhau là đối tượng phải nộp thuế. Nhưng để lách luật, người chị dâu làm thủ tục chuyển nhượng cho bố chồng, sau đó bố chồng lại chuyển nhượng tiếp cho người em dâu. Cả hai lần chuyển nhượng này đều thuộc đối tượng được miễn thuế. Thế là từ việc phải nộp thuế, hai chị em dâu chịu khó đi vòng, chuyển nhượng bắc cầu để tránh phải nộp thuế.
Trên cơ sở nhận diện các hành vi lách thuế, tránh thuế phát sinh khi triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN, thiết nghĩ, các cấp quản lý cần khẩn trương có những giải pháp hữu hiệu, theo đó tập trung vào các biện pháp sau:
Về phía Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành tài nguyên & môi trường kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản lý được việc sở hữu BĐS chi tiết của từng cá nhân. Từ đó, chống được sự man khai là tài sản duy nhất trong chuyển nhượng BĐS để được miễn thuế.
Đối với UBND các tỉnh, TP để chống việc lách thuế qua việc ghi thấp giá trên hợp đồng chuyển nhượng thì việc xây dựng và ban hành giá nhà, đất hàng năm phải phù hợp và sát giá thực tế chuyển nhượng trên thị trường tự do.
Nguồn: Tạp chí thuế

18/06/2013

Rủi ro trong hợp đồng ủy quyền-mua bán

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Trong thực tiễn pháp lý hiện nay, không ít các giao dịch mua bán chuyển nhượng mà đặc biệt là đối với bất động sản và ô tô vì một số lý do mà tôi đề cập sau đây mà các bên không tiến hành công chứng hợp đồng mua bán và chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định mà lựa chọn Hợp đồng uỷ quyền để che giấu hợp đồng chuyển nhượng, mua bán trá hình
1. Lý do các bên ưu tiên chọn Hợp đồng uỷ quyền:
- Thứ nhất, khi làm thủ tục chuyển nhượng, mua bán đối với bất động sản thì các bên phải đóng các loại thuế, phí và lệ phí khá cao trong khi đối với Hợp đồng uỷ quyền, các bên chỉ mất lệ phí công chứng là 40.000 đồng. Đối với giao dịch chuyển nhượng bất động sản, các bên có nghĩa vụ tài chính bao gồm: Lệ phí công chứng là 0,1% tính trên giá trị bất động sản; lệ phí trước bạ là 0,5% giá trị bất động sản, thuế thu nhập cá nhân là 25% trên thu nhập chuyển nhượng hoặc  2% theo giá chuyển nhượng thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tuỳ vào từng trường hợp. Đối với giao dịch chuyển nhượng ô tô, xe máy thì các bên cũng phải trải qua các thủ tục nộp thuế trước bạ, đăng ký, khám lưu hành và đổi số lưu hành (người bán và người mua có hộ khẩu thường trú không cùng tỉnh, thành phố)
- Thứ hai, một số trường hợp bên mua suy nghĩ mua nhà để ở, mua xe để đi lâu dài (xe là tài sản có thời hạn sử dụng khá ngắn) nên chỉ cần làm thủ tục nhanh, đỡ tốn thời gian công sức mà tránh được các khoản thuế, phí và lệ phí
2. Lách luật, mất trắng tài sản như chơi
Dùng hợp đồng uỷ quyền để che giấu hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro mà bên mua, bên nhận chuyển nhượng là người dễ mất quyền lợi nhất. Dưới đây là một số rủi ro mà các bên có thể phải gánh chịu Cụ thể:
- Thứ nhất, đối với hợp đồng uỷ quyền mặc dù bên mua, bên nhận chuyển nhượng đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhưng mà các quyền đó của họ bị hạn chế trong phạm vi hợp đồng uỷ quyền và người chủ sở hữu thực sự là người uỷ quyền. Và khi người được uỷ quyền muốn thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản là đối tượng của hợp đồng uỷ quyền thì cần thông qua người uỷ quyền.
-  Thứ hai, hợp đồng uỷ quyền và định đoạt có thể đương nhiên chấm dứt theo quy định của pháp luật (dù các bên có thoả thuận khác) trong trường hợp “bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền chết; bị toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết” (Khoản 4 Điều 589 BLDS). Khi đó, bên được uỷ quyền đương nhiên mất đi quyền lợi của mình đối với tài sản được uỷ quyền.
- Thứ ba, dù giao dịch mua bán trá hình đã hoàn tất, bên mua, bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán đầy đủ và đã nhận các giấy tờ kèm theo nhưng vì 1 lý do nào đấy thì một bên vẫn có thể yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng uỷ quyền vô hiệu vì hợp đồng này được xác lập nhằm che giấu giao dịch mua bán, chuyển nhượng thuộc ý chí đích thực của các bên (Điều 129 BLDS).
- Thứ tư, vì đa phần các hợp đồng uỷ quyền này thực tế là uỷ quyền không có thù lao, nên bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý (Điều 588 BLDS). Như vậy, trong trường hợp này, quyền lợi của người mua không được pháp luật bảo vệ.
- Thứ năm, khi bên uỷ quyền có nghĩa vụ đối với bên thứ ba (ngân hàng, cơ quan thi hành án, đối tác…) thì bên thứ ba này có quyền yêu cầu phong toả, kê biên và phát mãi tài sản của bên uỷ quyền để đảm bảo quyền lợi của họ ngay cả tài sản là đối tượng của hợp đồng uỷ quyền
- Thứ sáu, hiện nay, ở một số ngân hàng đặc biệt là ngân hàng nước ngoài, họ đã quá hiểu bản chất của loại hợp đồng mua bán - uỷ quyền này nên thường từ chối việc bên được uỷ quyền dùng tài sản được uỷ quyền thế chấp vay vốn tại tổ chức tín dụng của họ.
- Thứ bảy, bên bán, bên chuyển nhượng có thể ký hợp đồng uỷ quyền cho nhiều người, thực chất là đem một tài sản bán cho nhiều đối tượng.
Nghiên cứu kỹ các rủi ro tiềm ẩn của dạng hợp đồng mua bán - uỷ quyền thì bên mua, bên nhận chuyển nhượng là người có nguy cơ gánh chịu rủi ro cao nhất. Chính vì vậy, lời khuyên của tôi trong trường hợp này là nếu các bên thực sự có thiện chí và có đủ điều kiện cần thiết thì nên thực hiện thủ tục mua bán, chuyển nhượng đúng với bản chất của giao dịch. Trường hợp không đáp ứng điều kiện trên thì nên chọn Hợp đồng vay tiền có điều kiện hoặc hợp đồng đặt cọc với chế tài phạt tương ứng để bên chuyển nhượng thiện chí hơn trong việc thực hiện các thủ tục sang tên, đổi chủ.

16/06/2013

Trốn thuế khi chuyển nhượng nhà đất?

- Không có nhận xét nào
(Đức Hoài)-Dưới đây là ba chiêu mà người chuyển nhượng quyền sử dụng đấy dùng để lách Thuế TNCN
Quy định của Luật Thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS là khá thông thoáng, thể hiện rõ xu hướng cải cách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển nhượng BĐS, góp phần làm cho thị trường BĐS sôi động và phát triển. Nhưng trên thực tế thì không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng này để lách luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho NSNN. Các hành vi lách luật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức.
Tự khai là tài sản duy nhất
 Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng BĐS tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng;  công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho NSNN.Người dân nộp thuế tại điểm thu 22 Lý Thái Tổ. Ảnh: Hải Ly
Người dân nộp thuế tại điểm thu 22 Lý Thái Tổ
Hạ giá chuyển nhượng
 Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định.
Thực tế trên thị trường BĐS, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế. Và để được cơ quan Nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá UBND tỉnh, TP quy định. Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế.
Ví dụ: Ông A bán một lô đất giá thực tế mua bán là 2 tỷ đồng, giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 1,5 tỷ đồng (tương đương giá đất do UBND tỉnh quy định) thì số thuế TNCN sẽ bị thất thu là:
( 2tỷ đồng    -   1,5 tỷ đồng)   x   2%    =  10 triệu đồng.
Đây chỉ là một trường hợp với giá trị mua bán không lớn. Trên thực tế, mỗi ngày có biết bao giao dịch diễn ra với giá trị mỗi giao dịch lên đến hàng chục tỷ đồng  thì chắc chắn số thuế thất thu là rất lớn, nhất là thời điểm BĐS đang “sốt” như hiện nay.
Chuyển nhượng bắc cầu
Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN quy định: “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế.  
Cụ thể, hai chị em dâu chuyển nhượng BĐS cho nhau là đối tượng phải nộp thuế. Nhưng để lách luật, người chị dâu làm thủ tục chuyển nhượng cho bố chồng, sau đó bố chồng lại chuyển nhượng tiếp cho người em dâu. Cả hai lần chuyển nhượng này đều thuộc đối tượng được miễn thuế. Thế là từ việc phải nộp thuế, hai chị em dâu chịu khó đi vòng, chuyển nhượng bắc cầu để tránh phải nộp thuế.
Trên cơ sở nhận diện các hành vi lách thuế, tránh thuế phát sinh khi triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN, thiết nghĩ, các cấp quản lý cần khẩn trương có những giải pháp hữu hiệu, theo đó tập trung vào các biện pháp sau:
Về phía Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành tài nguyên & môi trường kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản lý được việc sở hữu BĐS chi tiết của từng cá nhân. Từ đó, chống được sự man khai là tài sản duy nhất trong chuyển nhượng BĐS để được miễn thuế.
Đối với UBND các tỉnh, TP để chống việc lách thuế qua việc ghi thấp giá trên hợp đồng chuyển nhượng thì việc xây dựng và ban hành giá nhà, đất hàng năm phải phù hợp và sát giá thực tế chuyển nhượng trên thị trường tự do.
Nguồn: Tạp chí thuế

06/05/2013

Luật sư than khó vì quy định “gặp 1 giờ”

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Quy định có từ cách đây 15 năm, khống chế thời gian luật sư tiếp xúc với thân chủ là bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự bị tạm giam đang làm khó người bào chữa.

Quy định khống chế thời gian làm việc của luật sư với thân chủ ở trại tạm giam cần được xem xét sửa đổi (Trong ảnh: Luật sư bào chữa trong một phiên tòa lưu động xét xử án hình sự) – Ảnh: Lê Quang
Giới luật sư than rằng Nghị định ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam số 89/1998/NĐ-CP ngày 7.11.1998 đang làm khó họ. Cụ thể, khoản 2 điều 22 nghị định này quy định: “Người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác và do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định. Trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam quyết định thời gian gặp nhưng không quá một giờ mỗi lần gặp”.


Description: http://www.thanhnien.com.vn/PublishingImages/img-thanhnien/news-pbdes.jpg;pv8b664f0583babad9
Người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác và do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định. Trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam quyết định thời gian gặp nhưng không quá một giờ mỗi lần gặp
Description: http://www.thanhnien.com.vn/PublishingImages/img-thanhnien/news-pbdes-2.jpg;pvbfb510943cb34975

Khoản 2 điều 22 Nghị định 89/1998/NĐ-CP

Đi cả ngàn cây số chỉ làm việc 1 giờ
Luật sư Nguyễn Thanh Lương (Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư Bến Tre) kể mới đây ông đến trại tạm giam làm việc với Đ.Đ.Đ (bị cáo trong một vụ án hình sự đang bị tạm giam ở Đắk Nông), hai bên đang trao đổi với nhau thì cán bộ quản giáo đến thông báo “hết giờ”. Do vụ án này Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng đang thụ lý, nên để gặp được bị cáo Đ., luật sư Lương phải đi từ Bến Tre ra Đà Nẵng xin giấy chứng nhận bào chữa rồi quay vào Đắk Nông. “Hành trình đi 1.628 km như thế nhưng chỉ được gặp thân chủ làm việc có 1 giờ. Nếu muốn làm việc tiếp thì phải bắt đầu lại hành trình ra Đà Nẵng xin thủ tục rồi lộn ngược vào chứ không thể gặp được ngay, vì giấy chứng nhận bào chữa bản chính đã bị thu ngay lần gặp đầu tiên”, luật sư Lương bức xúc. Luật sư Trần Công Ly Tao (Đoàn luật sư TP.HCM) nói ông cũng lâm vào tình cảnh tương tự tại Đắk Lắk.
Luật sư Trần Đình Triển còn khổ hơn khi đầu năm 2013 ông đến Trại tạm giam của Công an tỉnh Vĩnh Phúc để gặp bị cáo Hà Tuấn Ngọc (trước khi bị bắt là luật sư, phóng viên Đài phát thanh và truyền hình của một tỉnh, bị truy tố về tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ”). “Đến trại tạm giam, tôi bỏ tất cả đồ đạc bên ngoài chỉ cầm hồ sơ và bút vào. Vào phòng xét hỏi, một thượng úy ngồi bên cạnh tôi, một thượng úy ngồi cạnh bị cáo Ngọc. Vừa hỏi vừa ghi lời khai khoảng 10 phút, cộng với thời gian không nhất trí việc cử 2 cán bộ công an ngồi bên cạnh giám sát, tổng cuộc gặp được 20 phút thì bất chợt một thượng úy có điện thoại. Ngay sau đó, 2 thượng úy đều đồng thanh tuyên bố kết thúc cuộc gặp của luật sư với bị cáo”, luật sư Triển kể.
Quy định lỗi thời
Trên thực tế, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 98/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 89, nhưng riêng quy định về thời gian luật sư tiếp xúc với người tạm giam, tạm giữ vẫn được giữ nguyên. Luật sư Trần Công Ly Tao cho rằng: “Từ năm 1998 đến nay chính sách của nhà nước ta có rất nhiều thay đổi. Không biết bao nhiêu luật đã ban hành. Đặc biệt, cải cách lĩnh vực tư pháp nhằm hướng tới nhà nước pháp quyền nhưng thực tế luật sư vẫn còn cảm thấy khó khăn việc hành nghề trước những quy định riêng hạn chế quyền của luật sư”.
Description: http://www.thanhnien.com.vn/PublishingImages/img-thanhnien/news-pbdes-2.jpg;pvbfb510943cb34975Description: http://www.thanhnien.com.vn/PublishingImages/img-thanhnien/news-pbdes.jpg;pv8b664f0583babad9Luật sư Lương phân tích, thời gian làm việc, tiếp xúc của luật sư với bị can, bị cáo đang bị tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử đều bị khống chế không quá một giờ mỗi lần gặp và tương đương với thời gian thăm nuôi, gặp mặt của thân nhân người bị tạm giữ, tạm giam. Trong khi đó, Nghị định 89 và 98 không giới hạn thời gian làm việc của điều tra viên, kiểm sát viên, cán bộ tòa án. Thực tế, quy định “gặp 1 giờ” đã không đáp ứng nhu cầu cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp, công việc bào chữa của luật sư.
Có lẽ, đã đến lúc quy định này cần được xem xét điều chỉnh phù hợp.
Luật sư Trần Công Ly Tao cho rằng mặc dù được tòa án cấp giấy chứng nhận bào chữa nhưng khi đến trại tạm giam thì luật sư còn bị yêu cầu phải có lệnh trích xuất, tiếp xúc can phạm do tòa án cấp mới được phép vào làm việc với bị can.
Nhiều luật sư cũng than, cán bộ trại tạm giam đòi phải có lệnh trích xuất bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền mới đưa người tạm giữ, tạm giam khỏi nơi giam giữ. Nhưng tòa án lại cho rằng họ không có chức năng cấp loại giấy đó. Chính việc đẩy qua, đá lại này làm mất rất nhiều thời gian và công sức của luật sư mà có khi khó tiếp xúc được với thân chủ.



30/04/2013

Làm gì khi vé số trúng thưởng bị rách

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Hội đồng xổ số kiến thiết (XSKT) tỉnh Kiên Giang đã đi đến quyết định trả thưởng cho tờ vé số trúng giải 100 triệu đồng lỡ bị rách của ông Dương Văn Tùng (ngụ xã Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, An Giang).
Ngày 28/04 vừa qua, Hội đồng xổ số kiến thiết (XSKT) tỉnh Kiên Giang đã họp và đi đến quyết định trả thưởng cho tờ vé số trúng giải 100 triệu đồng lỡ bị rách của ông Dương Văn Tùng (ngụ xã Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, An Giang). Hành động này mặc dù đã nhận được sự đồng tình của những người trong cuộc lẫn những người quan tâm. Tuy nhiên, hành vi trước đó của XSKT Kiên Giang với thái độ kiên quyết không trả thưởng cho ông Tùng trong khi tờ vé số chỉ bị rách làm đôi, dãy số trúng thưởng vẫn còn nguyên vẹn và rất nhiều người dân có mặt tại thời điểm tờ vé số bị rách sẵn sàng đứng ra làm chứng cho sự việc đáng phải nhận sự phê phán từ dư luận. Liên quan đến hoạt động XSKT, tiểu mục 3.2 mục 3 phần II Thông tư số 65/2007/TT-BTC ngày 18/06/2007 quy định:
“3.2. Điều kiện của vé lĩnh thưởng
3.2.1. Người tham gia dự thưởng xổ số có trách nhiệm bảo quản tờ vé số đã mua để tham gia dự thưởng xổ số.
3.2.2. Vé lĩnh thưởng phải còn nguyên hình, nguyên khổ, không rách rời, không chắp vá, không tẩy xoá, không sửa chữa và còn trong thời hạn lĩnh thưởng theo quy định.
3.2.3. Trường hợp đặc biệt, nếu vé trúng thưởng bị rách rời nhưng vẫn còn đủ căn cứ để xác định hình dạng ban đầu và tính xác thực của tờ vé; vé không thuộc đối tượng nghi ngờ gian lận; vị trí rách rời không ảnh hưởng đến các yếu tố để xác định trúng thưởng thì Công ty Xổ số kiến thiết có thể tổ chức thẩm tra, xác minh và xem xét, trả thưởng cho khách hàng. Trường hợp cần thiết, Công ty Xổ số kiến thiết trưng cầu giám định của cơ quan Công an trước khi trả thưởng. Phí giám định (nếu có), do người sở hữu vé số chi trả.”
Hình 1.1 Ông Tùng và tờ vé số bị rách
Như vậy, khi xảy ra trường hợp vé số bị rách rời thì người sở hữu vé số cần bình tĩnh, bảo quản nguyên hiện trạng tờ vé số bị rách. Nếu tại thời điểm tờ vé số bị rách có thêm người khác chứng kiến thì đề nghị họ sẵn sàng làm chứng cho mình trong trường hợp có tranh chấp. Sau đó, người sở hữu vé số làm đơn gửi công ty XSKT phát hành tờ vé số đề nghị xem xét được lĩnh thưởng.
Hình 1.2 Một tờ vé số của công ty XSKT Kiên Giang
 Về phía công ty XSKT, sau khi nhận được đơn hay tiếp nhận thông tin từ khách hàng cần đối chiếu các quy định của pháp luật liên quan, đặc biệt là tiểu mục 3.2 mục 3 phần II Thông tư số 65/2007/TT-BTC nói trên để xem xét giải quyết quyền lợi của khách hàng. Trường hợp cần thiết, công ty XSKT nên trưng cầu giám định của cơ quan công an để giải quyết vụ việc được chính xác hơn.
 Xổ số kiến thiết tỉnh Hậu Giang  đã từng giải quyết trả thưởng số tiền 1,5 tỉ đồng cho ông V.T.K. (ở thị xã Hồng Ngự, Đồng Tháp) trúng thưởng độc đắc loại vé K5T12, mở thưởng ngày 31-12-2011 với số trúng là 178768 của Công ty Xổ số kiến thiết tỉnh Hậu Giang, khi tấm vé số bị rách làm đôi do người mua bất cẩn gây ra. 
 XSKT tỉnh Thừa Thiên-Huế ngày (10-12-2012) nhận được thông tin một khách hàng ở Đà Nẵng có một vé trúng giải nhất nhưng đã bị rách một góc vé. Theo quy định, khi nhận được yêu cầu trả thưởng của khách hàng, công ty đã thành lập hội đồng để xem xét. Hội đồng XSKT tỉnh Thừa Thiên - Huế căn cứ vào tính xác thực của tờ vé số trúng thưởng bị rách, kiểm tra cuống vé, mã vạch cho thấy vé số này đúng là của công ty phát hành. Tiếp đó, công ty xác minh tờ vé số trúng thưởng không bị tranh chấp, không gian lận nên quyết định trả thưởng cho khách hàng trúng giải.
 XSKT Đà Nẵng (tháng 4-2010) gặp phải một trường hợp hi hữu: tờ vé số (loại vé 5.000 đồng) trúng giải đặc biệt trị giá 125 triệu đồng bị rách rời tám mảnh. Người sở hữu tờ vé số này là ông H.T.V.. Do mắt kém nên khi dò vé số, ông V. dò nhầm đài và tưởng vé không trúng nên đã xé tờ vé số thành tám mảnh... Dẫu rách nát như vậy nhưng rất may toàn bộ dãy số trúng (29101) vẫn còn nguyên vẹn nên ông V. làm đơn xin công ty cứu xét trả thưởng cho ông. XSKT Đà Nẵng đã làm văn bản gửi phòng kỹ thuật hình sự  (PC21) Công an TP Đà Nẵng nhờ giám định. Kết quả giám định xác nhận tám mảnh rách là của một tờ vé số do Công ty XSKT Đà Nẵng phát hành. XSKT Đà Nẵng đã mời ông V. đến và trả thưởng đúng như những gì mà thông tư 65 Bộ Tài chính quy định.
  Ngoài trường hợp trên, Công ty XSKT Đà Nẵng còn trả thưởng cho ông L.T.R. (ngụ Q.Thanh Khê) - người có tờ vé số bị rách một góc bên trái và rách rời 1/3 nhưng dãy số và ngày tháng vẫn còn rõ ràng. Cụ thể, ngày 28-11-2012, ông L.T.R. mua tờ vé số 10593, loại vé 10.000 đồng. Đến tối cùng ngày, ông L.T.R. nhận được tin mình trúng giải đặc biệt trị giá 250 triệu đồng, nhưng do sơ suất trong quá trình cất giữ, tờ vé số trúng thưởng bị rách như nói trên. XSKT Đà Nẵng cũng nhờ PC21 giám định và kết quả tờ vé số là thật nên XSKT Đà Nẵng đã lập tức trả thưởng 250 triệu cho ông L.T.R.

04/04/2013

Vướng vòng lao lý viền tiêu tiền chung của vợ chồng

- Không có nhận xét nào

(Hoailegal)-Mới đây Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã mở phiên phúc thẩm xét xử vụ án “trộm cắp tài sản” do bị cáo Nguyễn Thanh Cần (46 tuổi, Tây Ninh) thực hiện. 
 Đây là một vụ án hết sức bi hài khi nạn nhân của vụ trộm không ai khác là vợ của của Cần, chị N.T.M. Theo đó, Cần bị tuyên phạt 7 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” với khoản tiền chiếm đoạt lên tới gần 1,39 tỷ đồng. Bị cáo Cần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chị M. cũng có đơn đề nghị xem xét cho chồng. Bản án dân sự được Toà án nhân dân Tỉnh Tây Ninh tuyên ngày 19/8/2012. 
Tình tiết vụ án này như sau:
    “Cần và chị N.T.M kết hôn năm 1988. Quá trình chung sống, cả hai kinh doanh xe tải và làm vườn mãng cầu, tích lũy được 10 lượng vàng 9999, gần 4 chỉ vàng 18k và 5 chỉ vàng 24k. Sau này, do Cần ít chí thú làm ăn dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Họ sống ly thân rồi lại quay lại sống chung nhiều lần.
Trong thời gian này, chị M. một mình quản lý vườn mãng cầu, kinh doanh xe tải, tích lũy tài sản cất giữ riêng và đưa tiền để Cần tiêu xài hàng ngày. Năm 2010, vợ chồng họ có thêm 2 hecta cao su bắt đầu đến kỳ thu hoạch. Cần được giao việc quản lý, thu hoạch rẫy cao su còn chị M. tiếp tục khai thác vườn mãng cầu và kinh doanh xe. Chị mua thêm được 16 lượng vàng 9999, 11 chỉ vàng 24k, 12,5 chỉ vàng 18k để cất giữ.

                                      Bị cáo Nguyễn Thanh Cần tại tòa
    Đầu tháng 1/2012, sau một lần cãi vã, vợ chồng họ lại sống ly thân. Cả hai vẫn ở chung một mái nhà nhưng mỗi người có một phòng riêng. Do biết vợ cất giữ nhiều tài sản và chẳng mảy may gì đến mình nên Cần nảy sinh ý định chiếm đoạt.
Khoảng 17 giờ ngày 20/5/2012, sau khi đi làm rẫy về biết vợ và con đang chở hàng lên TP.HCM nên Cần phá két sắt lấy toàn bộ số tài sản gồm số vàng trên và 197 triệu đồng sau đó dùng cưa sắt cưa cửa sổ phòng nhằm tạo hiện trường giả.
     Tuy nhiên, sau khi lấy được tiền Cần chỉ rút ra 200.000 đồng để tiêu xài, số tiền đem đi gửi ở nhà một người quen còn toàn bộ vàng đem đi chôn ở vườn cao su của gia đình”. Chuyện Cần lấy tài sản sau đó bị phát giác ngay sau khi vợ Cần trình báo công an.
     Điều đáng lưu ý là trong vụ án này là Hội đồng xét xử phúc thẩm phân tích vụ án theo hướng “Tài sản dù là của chung hay của riêng nhưng việc bị cáo lén lút lấy tài sản rồi cưa cửa sổ để tạo hiện trường giả đã đủ yếu tố cấu thành hành vi phạm tội” mặc dù cả bị cáo Cần lẫn vợ đều thừa nhận tài sản mà Cần lấy là tài sản chung, không có sự phân chia tài sản chung này giữa hai vợ chồng.
    Cuối cùng, nhận định vụ án còn nhiều tình tiết cần phải làm rõ liên quan đến số tiền bị cáo Cần chiếm đoạt, tại tòa cả hai vợ chồng bị cáo đều nói là tài sản chung, không biết, không phân định của vợ bao nhiêu, của chồng bao nhiêu. Vậy tài sản trên là tài sản chung hay riêng? Nếu tài sản chung thì xác định phần của mỗi người bao nhiêu?... Do vậy, Hội đồng xét xử đã chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, tuyên hủy toàn bộ bản án để cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại từ đầu.
Đức Hoài
Theo Mai Phượng
Vietnamnet

01/04/2013

Công an xã xử lý vi phạm giao thông

- Không có nhận xét nào
(Đức Hoài)-Công an xã là một trong những lực lượng tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ và trong một số trường hợp họ được dừng xe để kiểm tra và lập biên bản về hành vi vi phạm giao thông đường bộ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rõ về phạm vi thẩm quyền
      Công an xã là một trong những lực lượng tham gia giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường bộ và trong một số trường hợp họ được dừng xe để kiểm tra và lập biên bản về hành vi vi phạm giao thông đường bộ. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết rõ về phạm vi thẩm quyền này của công an xã trong vai trò là 1 lực lượng hỗ trợ Công an giao thông và Thanh tra giao thông. Chính vì vậy, Hoài viết bài này mục đích để mọi người hiểu rõ hơn về vấn đề này. Công an xã ở đây được hiểu là lực lượng công an bán chuyên trách (không chính quy).
1. Về thủ tục điều động, căn cứ vào khoản 2 Điều 8 Nghị định 27/2010/NĐ-CP thì khi làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông mà không có Cảnh sát giao thông đường bộ đi cùng thì Công an xã phải thực hiện theo KẾ HOẠCH đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2. Về các tuyến đường và các hành vi vi phạm được quyền xử phạt, căn cứ vào khoản 4 Điều 7 Thông tư số 47/2011/TT-BCA thì:
- Lực lượng Công an xã chỉ được quyền tuần tra, kiểm soát và xử lý các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường liên xã, liên thôn thuộc địa bàn quản lý. NGHIÊM CẤM VIỆC CÔNG AN XÃ DỪNG XE, KIỂM SOÁT TRÊN CÁC TUYẾN QUỐC LỘ, TỈNH LỘ
- Lực lượng công an xã chỉ được quyền xử lý các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông như sau:
+ Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm,
+ Chở quá số người quy định, chở hàng hóa cồng kềnh;
+ Đỗ xe ở lòng đường trái quy định;
+ Điều khiển phương tiện phóng nhanh, lạng lách, đánh võng, tháo ống xả,
+ Không có gương chiếu hậu
+ Chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện theo quy định của pháp luật
+ Các hành vi vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ như họp chợ dưới lòng đường, lấn chiếm hành lang an toàn giao thông
3. Về mức xử phạt, căn cứ vào Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính của Uỷ ban Thường Vụ Quốc Hội số 04/2008/UBTVQH12 ngày 02/04/2008 thì:
- Công an viên được quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 200.000 đồng  (từ 01/07/2013 mức phạt tiền đến 1% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 500.000 đồng  - Luật xử lý vi phạm hành chính 2012)
- Trưởng công an xã được quyền:
+  Phạt cảnh cáo;
+  Phạt tiền đến 30.000.000 đồng (từ 01/07/2013 mức phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng - Luật xử lý vi phạm hành chính 2012)
+  Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (từ 01/07/2013 được quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này - Luật xử lý vi phạm hành chính 2012);
4. Về thủ tục xử phạt, theo quy định thì thủ tục xử phạt trong lĩnh vực vi phạm hành chính nói chung bao gồm thủ tục đơn giản (xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản) và thủ tục đầy đủ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến thủ tục đơn giản bởi thủ tục này ít người biết và dễ nảy sinh tiêu cực
- Căn cứ Khoản 21 Điều 1 vào Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính của Uỷ ban Thường Vụ Quốc Hội số 04/2008/UBTVQH12 ngày 02/04/2008 thì trong trường hợp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định xử phạt tại chỗ. Việc xử phạt tại chỗ không phải lập biên bản, trừ trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ.
Từ ngày 01/07/2013 hình thức phạt tiền mà công an xã không phải lập biên bản vi phạm là 250.000 đồng với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức (Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012)
Đức Hoài

12/11/2012

Cơ sở hình thành giá xăng dầu

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Tối nay, ngày 11/11/2012, tôi đọc báo mới thấy giá xăng dầu đã được Bác Bộ Tài chính quyết định cho giảm. Cụ thể là:
"Kể từ 18h ngày 11/11/2012, xăng giảm 500 đồng/lít: Xăng RON 92 từ 23.650 đồng/lít xuống còn 23.150 đồng/lít; Dầu madut giảm 500 đồng/kg...
(http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/3312584?pers_id=2177092&item_id=76796011&p_details=1 ))
Giảm như thế cũng mừng. Chúng ta sẽ tiết kiệm được chút chi phí. Dưới đây là cơ sở hình thành giá xăng dầu nhập khẩu:
 Giá cơ sở là giá để hình thành giá bán lẻ xăng dầu bao gồm các yếu tố và được xác định bằng
=
{giá xăng dầu thế giới
 +
 Phí bảo hiểm
 +
 Cước vận tải về đến cảng Việt Nam
 +
 Thuế nhập khẩu
 +
 Thuế tiêu thụ đặc biệt}
 x
 Tỷ giá ngoại tệ
 +
 chi phí kinh doanh định mức
 +
 Quỹ Bình ổn giá
 +
 Lợi nhuận định mức trước thuế
 +
 Thuế giá trị gia tăng 
 +
 Phí xăng dầu 
 +
 Các loại thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
 Nhìn vào công thức tính giá xăng dầu thành phẩm bán lẻ ở trên chúng ta mới thấy hết được những khó khăn của người dân ở một đất nước có trữ lượng dầu thô lớn mà thiếu vốn và công nghệ để xây dựng những nhà máy lọc dầu.
Đức Hoài