Vi bằng hot

Hình ảnh chủ đề của Storman. Được tạo bởi Blogger.

Categories

Recent in vibang

Home Ads

Tags

Mẫu vi bằng

Random Posts

Hiển thị các bài đăng có nhãn tuvanhonnhangiadinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tuvanhonnhangiadinh. Hiển thị tất cả bài đăng

23/06/2013

Chung sống trước ngày 3-1-1987 là hôn nhân thực tế?

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, hiện nhiều thẩm phán đang có cách hiểu khác nhau khi vận dụng Điều 3 Nghị quyết 35 năm 2000 của Quốc hội.
 Có người nói nam nữ cứ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 là hôn nhân thực tế, có người lại bảo phải đủ điều kiện kết hôn mới được công nhận…Một ví dụ tiêu biểu đã được đưa ra: Ông A chung sống với bà B nhiều năm, đã có con chung và tài sản chung. Đến năm 1970, ông A lấy thêm vợ lẽ là bà C (có tổ chức cưới hỏi), sau đó sống với bà C. Năm 2002, ông A xin ly hôn bà C. Vậy quan hệ giữa ông và bà C có phải là hôn nhân thực tế hay không?
Chỉ cần chung sống như vợ chồng?
Những thẩm phán theo cách hiểu thứ nhất cho rằng trong trường hợp này, quan hệ giữa ông A và bà C vẫn được công nhận là hôn nhân thực tế dù vừa vi phạm về hình thức (không đăng ký kết hôn) vừa vi phạm về nội dung (ông A đã có vợ hợp pháp là bà B).
Các thẩm phán lý giải: Theo Điều 3 Nghị quyết 35, hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực) nhưng không đăng ký kết hôn thì được tòa công nhận là vợ chồng khi ly hôn. Như vậy, điều khoản trên không hề quy định nam nữ sống với nhau như vợ chồng phải có đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình.
Vì luật không quy định nên các thẩm phán cho rằng chỉ cần điều kiện duy nhất là hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 thì công nhận họ là vợ chồng mà không cần điều kiện gì khác. Luật pháp không bắt buộc mà chỉ khuyến khích họ đi đăng ký kết hôn nên giả sử họ không đăng ký thì thực chất họ vẫn có mối quan hệ vợ chồng.
Một phiên tòa xử ly hôn tại TAND quận 10, TP.HCM. Ảnh minh họa: HTD
Hay phải đủ các điều kiện kết hôn?
Ngược lại, nhiều thẩm phán khác không đồng tình với cách hiểu trên. Theo họ, ông A và bà C sẽ không được công nhận là vợ chồng dù hai bên có tổ chức cưới hỏi đàng hoàng, có sống chung từ năm 1970 bởi ông A đang có vợ là bà B.
Theo các thẩm phán, Điều 3 Nghị quyết 35 chỉ châm chước cho các trường hợp sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 mà vi phạm điều kiện về hình thức là chưa đăng ký kết hôn; còn về nội dung phải thì tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1960 (Trừ những trường hợp cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc trước giải phóng lấy tiếp vợ hai, đã có thông tư hướng dẫn riêng).
Tòa Dân sự TAND Tối cao đồng ý với quan điểm này vì Điều 35 Nghị quyết 35 không yêu cầu có đủ điều kiện kết hôn cũng không có nghĩa là không cần tuân thủ điều kiện khi kết hôn. Theo Tòa Dân sự, thẩm phán hiểu khái niệm không quy định điều kiện kết hôn đồng nghĩa với khái niệm không cần đủ điều kiện kết hôn là máy móc và không chính xác. Đánh đồng hai khái niệm trên sẽ dẫn đến chuyện áp dụng pháp luật thiếu thống nhất.
Mặt khác, Tòa Dân sự cho rằng nếu áp dụng theo quan điểm thứ nhất thì rất khó xử lý những trường hợp đặc biệt như những người cùng dòng máu về trực hệ như cha, con, anh em; cha mẹ nuôi với con nuôi. Tương tự là giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; cha dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng; những người có họ trong phạm vi ba đời... Bởi thực tế có trường hợp thuộc một trong các trường hợp trên sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, thực sự chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ nhau nhưng làm sao có thể công nhận họ là vợ chồng được!
Theo một lãnh đạo Tòa Dân sự, luật hôn nhân và gia đình các năm 1960, 1986 và 2000 đều quy định hôn nhân muốn được coi là hợp pháp trước hết phải thỏa mãn các điều kiện kết hôn, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, Điều 3 Nghị quyết 35 của Quốc hội cũng không thể thoát ly ngoài các quy định đó.
Không chỉ dựa vào câu chữ
Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, khi tìm hiểu, giải thích pháp luật, để đảm bảo tính chính xác và không mâu thuẫn với quy định khác thì không chỉ căn cứ vào câu chữ cụ thể mà còn phải tổng hợp các quy định về các vấn đề đó. Có như vậy mới đảm bảo tính ổn định và thống nhất trong việc giải thích và áp dụng pháp luật, không rơi vào chuyện áp dụng máy móc, trái thực tế, trái đạo đức.
Không thể vi phạm điều kiện về nội dung
Tôi cho rằng trong trường hợp hai người sống với nhau nhưng vi phạm điều kiện kết hôn về nội dung như đang có vợ (chồng) hoặc vi phạm đạo đức thì không nên công nhận hôn nhân thực tế cho họ. Nếu có tranh chấp thì tòa chỉ nên giải quyết về vấn đề tài sản hoặc con chung cho họ.
Nếu chấp nhận một cách dễ dãi theo kiểu luật không quy định điều kiện theo quan điểm thứ nhất thì sẽ có người được công nhận nhiều hôn nhân một lúc, gây nhiều khó khăn, rắc rối khi giải quyết hậu quả phát sinh.
(Thẩm phán HOÀNG VĂN HẢI, Phó Chánh án TAND tỉnh Tây Ninh)
Phải hiểu đúng tinh thần nghị quyết
Theo tôi, phải hiểu theo cách thứ hai mới đúng tinh thần Nghị quyết 35 bởi ngoài các điều kiện về mốc thời gian nêu trên thì phải có đủ điều kiện kết hôn mới có thể coi là hôn nhân thực tế. Điều kiện kết hôn ở đây có thể hiểu là yếu tố đương nhiên cho một cuộc hôn nhân có ý nghĩa.
Tôi nghĩ chẳng ai máy móc mà công nhận vợ chồng cho những người thiếu năng lực hành vi hoặc có quan hệ họ hàng gần gũi, có dòng máu trực hệ với nhau cả.
Đức Hoài
(Theo Pháp luật Thành phố)

20/03/2013

Tránh lập di chúc chung của vợ chồng

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Nếu di chúc chung đó không hợp pháp mà những người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời thì đến khi người lập di chúc sau cùng chết, thời hiệu khởi kiện không còn thì quyền lợi của người thừa kế coi như bị bỏ lửng…
BLDS cho phép vợ chồng được lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất kỳ lúc nào nếu được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.
Hiện nay, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng lập di chúc chung nhằm bảo toàn tài sản để lại cho con cháu nhưng thực tiễn đã nảy sinh khá nhiều vướng mắc pháp lý.
Không thể định đoạt tài sản của mình
Theo nhiều chuyên gia, vướng mắc lớn nhất là việc khi vợ hoặc chồng chết trước thì người còn lại cũng như người thừa kế theo di chúc không thể định đoạt di sản như bán, thế chấp… Có việc này bởi di chúc chung của vợ chồng chủ yếu định đoạt nhà, đất. Nhà, đất là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, chưa phân định phần nào là sở hữu của mỗi người nên khi một người chết trước thì không thể công chứng việc mua bán phần tài sản thuộc sở hữu của người còn sống được. Mặt khác, theo luật di chúc chung chỉ có hiệu lực sau khi cả vợ chồng cùng chết hoặc người sau cùng chết. Do vậy, khi một trong hai người vẫn còn sống thì chưa thể làm thủ tục khai nhận thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản.
Chẳng hạn trường hợp của ông VTH ở TP Tân An (Long An). Thương người con gái độc thân, vợ chồng ông lập di chúc để lại căn nhà đang ở cho chị. Năm 2006, vợ ông H. bệnh nặng qua đời. Hai năm sau, ông H. bị tai biến, nằm liệt tại chỗ. Việc chữa trị, chăm sóc ông rất tốn kém trong khi chỉ một tay người con gái bươn chải. Nợ nần chồng chất, ông H. và con bàn nhau bán nhà trả nợ, còn lại mua một căn nhà nhỏ để cha con sống và có dư một ít tiền làm vốn cho người con mua bán sinh nhai.

Sau đó, người con đem hồ sơ nhà đất và tờ di chúc ra phòng công chứng khai nhận di sản thì bị từ chối. Theo phòng công chứng, đây là di chúc chung của vợ chồng nên khi ông H. còn sống thì di chúc chưa có hiệu lực. Ông H. muốn thay đổi nội dung di chúc nhằm có thể tự bán phần một nửa căn nhà của ông nên nhờ cậy một luật sư tư vấn miễn phí. Tuy nhiên, luật sư cho biết một nửa căn nhà của ông gắn liền với phần tài sản của người vợ đã mất, mặt khác theo luật, khi sửa đổi di chúc chung của vợ chồng thì không được làm thay đổi bản chất nội dung của di chúc. Nghĩa là dù ông H. có định đoạt lại nửa căn nhà phần ông thế nào thì cũng không thể thay đổi, hủy bỏ việc cho người con gái căn nhà đó được.
Bán nhà không được, thế chấp vay tiền ngân hàng cũng không xong, cha con ông H. đành ngậm ngùi chấp nhận hoàn cảnh thiếu trước hụt sau, túng quẫn từng ngày.
Một vụ khác là trường hợp ông TVT ở TP Biên Hòa (Đồng Nai), vốn có nhà bạc tỉ nhưng cuối đời phải sống trong cảnh khổ. Vợ chồng ông lập di chúc chung để lại căn nhà duy nhất trị giá khoảng 2 tỉ đồng cho hai con. Sau khi vợ mất, hai con bỏ rơi ông, không đứa nào chăm sóc vì chê cha khó tính, hay bẳn gắt. Ông tuổi già sức yếu (hơn 90 tuổi), muốn bán căn nhà của mình để có tiền trang trải tuổi già nhưng không được. Ông khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ di chúc cũng bị tòa từ chối.
Ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện thừa kế
Ngoài vướng mắc trên, theo một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM, quy định hiện hành về di chúc chung của vợ chồng còn nhiều bất cập khác. Bởi lẽ thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc chung vợ chồng không đơn giản chỉ là căn cứ để phân chia di sản theo di chúc chung mà còn ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện, quyền thừa kế cũng như việc định giá di sản của người chết...
Vị thẩm phán này phân tích: Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy hết 10 năm mà một trong hai người lập di chúc vẫn còn sống thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối với phần di sản của người chết trước cũng không còn. Giả sử nếu di chúc chung đó không hợp pháp mà những người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời thì đến khi người lập di chúc sau cùng chết, thời hiệu khởi kiện không còn thì quyền lợi của người thừa kế coi như bị bỏ lửng…
Ngoài ra, quy định về hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng sẽ dẫn đến tình trạng khó phân chia di sản. Nếu người còn lại sống thọ quá lâu, tài sản chung có thể không còn nguyên vẹn hay tăng, giảm giá trị thì việc xác định giá trị tài sản chung hết sức phức tạp, tạo ra nhiều tranh chấp khác khó giải quyết…
Theo Báo Pháp luật