Vi bằng hot

Hình ảnh chủ đề của Storman. Được tạo bởi Blogger.

Categories

Recent in vibang

Home Ads

Tags

Mẫu vi bằng

Random Posts

Hiển thị các bài đăng có nhãn tuvandansu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tuvandansu. Hiển thị tất cả bài đăng

18/06/2013

Rủi ro trong hợp đồng ủy quyền-mua bán

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Trong thực tiễn pháp lý hiện nay, không ít các giao dịch mua bán chuyển nhượng mà đặc biệt là đối với bất động sản và ô tô vì một số lý do mà tôi đề cập sau đây mà các bên không tiến hành công chứng hợp đồng mua bán và chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định mà lựa chọn Hợp đồng uỷ quyền để che giấu hợp đồng chuyển nhượng, mua bán trá hình
1. Lý do các bên ưu tiên chọn Hợp đồng uỷ quyền:
- Thứ nhất, khi làm thủ tục chuyển nhượng, mua bán đối với bất động sản thì các bên phải đóng các loại thuế, phí và lệ phí khá cao trong khi đối với Hợp đồng uỷ quyền, các bên chỉ mất lệ phí công chứng là 40.000 đồng. Đối với giao dịch chuyển nhượng bất động sản, các bên có nghĩa vụ tài chính bao gồm: Lệ phí công chứng là 0,1% tính trên giá trị bất động sản; lệ phí trước bạ là 0,5% giá trị bất động sản, thuế thu nhập cá nhân là 25% trên thu nhập chuyển nhượng hoặc  2% theo giá chuyển nhượng thực tế ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tuỳ vào từng trường hợp. Đối với giao dịch chuyển nhượng ô tô, xe máy thì các bên cũng phải trải qua các thủ tục nộp thuế trước bạ, đăng ký, khám lưu hành và đổi số lưu hành (người bán và người mua có hộ khẩu thường trú không cùng tỉnh, thành phố)
- Thứ hai, một số trường hợp bên mua suy nghĩ mua nhà để ở, mua xe để đi lâu dài (xe là tài sản có thời hạn sử dụng khá ngắn) nên chỉ cần làm thủ tục nhanh, đỡ tốn thời gian công sức mà tránh được các khoản thuế, phí và lệ phí
2. Lách luật, mất trắng tài sản như chơi
Dùng hợp đồng uỷ quyền để che giấu hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro mà bên mua, bên nhận chuyển nhượng là người dễ mất quyền lợi nhất. Dưới đây là một số rủi ro mà các bên có thể phải gánh chịu Cụ thể:
- Thứ nhất, đối với hợp đồng uỷ quyền mặc dù bên mua, bên nhận chuyển nhượng đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhưng mà các quyền đó của họ bị hạn chế trong phạm vi hợp đồng uỷ quyền và người chủ sở hữu thực sự là người uỷ quyền. Và khi người được uỷ quyền muốn thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản là đối tượng của hợp đồng uỷ quyền thì cần thông qua người uỷ quyền.
-  Thứ hai, hợp đồng uỷ quyền và định đoạt có thể đương nhiên chấm dứt theo quy định của pháp luật (dù các bên có thoả thuận khác) trong trường hợp “bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền chết; bị toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết” (Khoản 4 Điều 589 BLDS). Khi đó, bên được uỷ quyền đương nhiên mất đi quyền lợi của mình đối với tài sản được uỷ quyền.
- Thứ ba, dù giao dịch mua bán trá hình đã hoàn tất, bên mua, bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán đầy đủ và đã nhận các giấy tờ kèm theo nhưng vì 1 lý do nào đấy thì một bên vẫn có thể yêu cầu toà án tuyên bố hợp đồng uỷ quyền vô hiệu vì hợp đồng này được xác lập nhằm che giấu giao dịch mua bán, chuyển nhượng thuộc ý chí đích thực của các bên (Điều 129 BLDS).
- Thứ tư, vì đa phần các hợp đồng uỷ quyền này thực tế là uỷ quyền không có thù lao, nên bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý (Điều 588 BLDS). Như vậy, trong trường hợp này, quyền lợi của người mua không được pháp luật bảo vệ.
- Thứ năm, khi bên uỷ quyền có nghĩa vụ đối với bên thứ ba (ngân hàng, cơ quan thi hành án, đối tác…) thì bên thứ ba này có quyền yêu cầu phong toả, kê biên và phát mãi tài sản của bên uỷ quyền để đảm bảo quyền lợi của họ ngay cả tài sản là đối tượng của hợp đồng uỷ quyền
- Thứ sáu, hiện nay, ở một số ngân hàng đặc biệt là ngân hàng nước ngoài, họ đã quá hiểu bản chất của loại hợp đồng mua bán - uỷ quyền này nên thường từ chối việc bên được uỷ quyền dùng tài sản được uỷ quyền thế chấp vay vốn tại tổ chức tín dụng của họ.
- Thứ bảy, bên bán, bên chuyển nhượng có thể ký hợp đồng uỷ quyền cho nhiều người, thực chất là đem một tài sản bán cho nhiều đối tượng.
Nghiên cứu kỹ các rủi ro tiềm ẩn của dạng hợp đồng mua bán - uỷ quyền thì bên mua, bên nhận chuyển nhượng là người có nguy cơ gánh chịu rủi ro cao nhất. Chính vì vậy, lời khuyên của tôi trong trường hợp này là nếu các bên thực sự có thiện chí và có đủ điều kiện cần thiết thì nên thực hiện thủ tục mua bán, chuyển nhượng đúng với bản chất của giao dịch. Trường hợp không đáp ứng điều kiện trên thì nên chọn Hợp đồng vay tiền có điều kiện hoặc hợp đồng đặt cọc với chế tài phạt tương ứng để bên chuyển nhượng thiện chí hơn trong việc thực hiện các thủ tục sang tên, đổi chủ.

16/06/2013

Trốn thuế khi chuyển nhượng nhà đất?

- Không có nhận xét nào
(Đức Hoài)-Dưới đây là ba chiêu mà người chuyển nhượng quyền sử dụng đấy dùng để lách Thuế TNCN
Quy định của Luật Thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS là khá thông thoáng, thể hiện rõ xu hướng cải cách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển nhượng BĐS, góp phần làm cho thị trường BĐS sôi động và phát triển. Nhưng trên thực tế thì không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng này để lách luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho NSNN. Các hành vi lách luật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức.
Tự khai là tài sản duy nhất
 Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng BĐS tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng;  công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho NSNN.Người dân nộp thuế tại điểm thu 22 Lý Thái Tổ. Ảnh: Hải Ly
Người dân nộp thuế tại điểm thu 22 Lý Thái Tổ
Hạ giá chuyển nhượng
 Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định.
Thực tế trên thị trường BĐS, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế. Và để được cơ quan Nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá UBND tỉnh, TP quy định. Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế.
Ví dụ: Ông A bán một lô đất giá thực tế mua bán là 2 tỷ đồng, giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 1,5 tỷ đồng (tương đương giá đất do UBND tỉnh quy định) thì số thuế TNCN sẽ bị thất thu là:
( 2tỷ đồng    -   1,5 tỷ đồng)   x   2%    =  10 triệu đồng.
Đây chỉ là một trường hợp với giá trị mua bán không lớn. Trên thực tế, mỗi ngày có biết bao giao dịch diễn ra với giá trị mỗi giao dịch lên đến hàng chục tỷ đồng  thì chắc chắn số thuế thất thu là rất lớn, nhất là thời điểm BĐS đang “sốt” như hiện nay.
Chuyển nhượng bắc cầu
Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN quy định: “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế.  
Cụ thể, hai chị em dâu chuyển nhượng BĐS cho nhau là đối tượng phải nộp thuế. Nhưng để lách luật, người chị dâu làm thủ tục chuyển nhượng cho bố chồng, sau đó bố chồng lại chuyển nhượng tiếp cho người em dâu. Cả hai lần chuyển nhượng này đều thuộc đối tượng được miễn thuế. Thế là từ việc phải nộp thuế, hai chị em dâu chịu khó đi vòng, chuyển nhượng bắc cầu để tránh phải nộp thuế.
Trên cơ sở nhận diện các hành vi lách thuế, tránh thuế phát sinh khi triển khai thực hiện Luật Thuế TNCN, thiết nghĩ, các cấp quản lý cần khẩn trương có những giải pháp hữu hiệu, theo đó tập trung vào các biện pháp sau:
Về phía Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành tài nguyên & môi trường kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản lý được việc sở hữu BĐS chi tiết của từng cá nhân. Từ đó, chống được sự man khai là tài sản duy nhất trong chuyển nhượng BĐS để được miễn thuế.
Đối với UBND các tỉnh, TP để chống việc lách thuế qua việc ghi thấp giá trên hợp đồng chuyển nhượng thì việc xây dựng và ban hành giá nhà, đất hàng năm phải phù hợp và sát giá thực tế chuyển nhượng trên thị trường tự do.
Nguồn: Tạp chí thuế

30/04/2013

Làm gì khi vé số trúng thưởng bị rách

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Hội đồng xổ số kiến thiết (XSKT) tỉnh Kiên Giang đã đi đến quyết định trả thưởng cho tờ vé số trúng giải 100 triệu đồng lỡ bị rách của ông Dương Văn Tùng (ngụ xã Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, An Giang).
Ngày 28/04 vừa qua, Hội đồng xổ số kiến thiết (XSKT) tỉnh Kiên Giang đã họp và đi đến quyết định trả thưởng cho tờ vé số trúng giải 100 triệu đồng lỡ bị rách của ông Dương Văn Tùng (ngụ xã Mỹ Khánh, TP Long Xuyên, An Giang). Hành động này mặc dù đã nhận được sự đồng tình của những người trong cuộc lẫn những người quan tâm. Tuy nhiên, hành vi trước đó của XSKT Kiên Giang với thái độ kiên quyết không trả thưởng cho ông Tùng trong khi tờ vé số chỉ bị rách làm đôi, dãy số trúng thưởng vẫn còn nguyên vẹn và rất nhiều người dân có mặt tại thời điểm tờ vé số bị rách sẵn sàng đứng ra làm chứng cho sự việc đáng phải nhận sự phê phán từ dư luận. Liên quan đến hoạt động XSKT, tiểu mục 3.2 mục 3 phần II Thông tư số 65/2007/TT-BTC ngày 18/06/2007 quy định:
“3.2. Điều kiện của vé lĩnh thưởng
3.2.1. Người tham gia dự thưởng xổ số có trách nhiệm bảo quản tờ vé số đã mua để tham gia dự thưởng xổ số.
3.2.2. Vé lĩnh thưởng phải còn nguyên hình, nguyên khổ, không rách rời, không chắp vá, không tẩy xoá, không sửa chữa và còn trong thời hạn lĩnh thưởng theo quy định.
3.2.3. Trường hợp đặc biệt, nếu vé trúng thưởng bị rách rời nhưng vẫn còn đủ căn cứ để xác định hình dạng ban đầu và tính xác thực của tờ vé; vé không thuộc đối tượng nghi ngờ gian lận; vị trí rách rời không ảnh hưởng đến các yếu tố để xác định trúng thưởng thì Công ty Xổ số kiến thiết có thể tổ chức thẩm tra, xác minh và xem xét, trả thưởng cho khách hàng. Trường hợp cần thiết, Công ty Xổ số kiến thiết trưng cầu giám định của cơ quan Công an trước khi trả thưởng. Phí giám định (nếu có), do người sở hữu vé số chi trả.”
Hình 1.1 Ông Tùng và tờ vé số bị rách
Như vậy, khi xảy ra trường hợp vé số bị rách rời thì người sở hữu vé số cần bình tĩnh, bảo quản nguyên hiện trạng tờ vé số bị rách. Nếu tại thời điểm tờ vé số bị rách có thêm người khác chứng kiến thì đề nghị họ sẵn sàng làm chứng cho mình trong trường hợp có tranh chấp. Sau đó, người sở hữu vé số làm đơn gửi công ty XSKT phát hành tờ vé số đề nghị xem xét được lĩnh thưởng.
Hình 1.2 Một tờ vé số của công ty XSKT Kiên Giang
 Về phía công ty XSKT, sau khi nhận được đơn hay tiếp nhận thông tin từ khách hàng cần đối chiếu các quy định của pháp luật liên quan, đặc biệt là tiểu mục 3.2 mục 3 phần II Thông tư số 65/2007/TT-BTC nói trên để xem xét giải quyết quyền lợi của khách hàng. Trường hợp cần thiết, công ty XSKT nên trưng cầu giám định của cơ quan công an để giải quyết vụ việc được chính xác hơn.
 Xổ số kiến thiết tỉnh Hậu Giang  đã từng giải quyết trả thưởng số tiền 1,5 tỉ đồng cho ông V.T.K. (ở thị xã Hồng Ngự, Đồng Tháp) trúng thưởng độc đắc loại vé K5T12, mở thưởng ngày 31-12-2011 với số trúng là 178768 của Công ty Xổ số kiến thiết tỉnh Hậu Giang, khi tấm vé số bị rách làm đôi do người mua bất cẩn gây ra. 
 XSKT tỉnh Thừa Thiên-Huế ngày (10-12-2012) nhận được thông tin một khách hàng ở Đà Nẵng có một vé trúng giải nhất nhưng đã bị rách một góc vé. Theo quy định, khi nhận được yêu cầu trả thưởng của khách hàng, công ty đã thành lập hội đồng để xem xét. Hội đồng XSKT tỉnh Thừa Thiên - Huế căn cứ vào tính xác thực của tờ vé số trúng thưởng bị rách, kiểm tra cuống vé, mã vạch cho thấy vé số này đúng là của công ty phát hành. Tiếp đó, công ty xác minh tờ vé số trúng thưởng không bị tranh chấp, không gian lận nên quyết định trả thưởng cho khách hàng trúng giải.
 XSKT Đà Nẵng (tháng 4-2010) gặp phải một trường hợp hi hữu: tờ vé số (loại vé 5.000 đồng) trúng giải đặc biệt trị giá 125 triệu đồng bị rách rời tám mảnh. Người sở hữu tờ vé số này là ông H.T.V.. Do mắt kém nên khi dò vé số, ông V. dò nhầm đài và tưởng vé không trúng nên đã xé tờ vé số thành tám mảnh... Dẫu rách nát như vậy nhưng rất may toàn bộ dãy số trúng (29101) vẫn còn nguyên vẹn nên ông V. làm đơn xin công ty cứu xét trả thưởng cho ông. XSKT Đà Nẵng đã làm văn bản gửi phòng kỹ thuật hình sự  (PC21) Công an TP Đà Nẵng nhờ giám định. Kết quả giám định xác nhận tám mảnh rách là của một tờ vé số do Công ty XSKT Đà Nẵng phát hành. XSKT Đà Nẵng đã mời ông V. đến và trả thưởng đúng như những gì mà thông tư 65 Bộ Tài chính quy định.
  Ngoài trường hợp trên, Công ty XSKT Đà Nẵng còn trả thưởng cho ông L.T.R. (ngụ Q.Thanh Khê) - người có tờ vé số bị rách một góc bên trái và rách rời 1/3 nhưng dãy số và ngày tháng vẫn còn rõ ràng. Cụ thể, ngày 28-11-2012, ông L.T.R. mua tờ vé số 10593, loại vé 10.000 đồng. Đến tối cùng ngày, ông L.T.R. nhận được tin mình trúng giải đặc biệt trị giá 250 triệu đồng, nhưng do sơ suất trong quá trình cất giữ, tờ vé số trúng thưởng bị rách như nói trên. XSKT Đà Nẵng cũng nhờ PC21 giám định và kết quả tờ vé số là thật nên XSKT Đà Nẵng đã lập tức trả thưởng 250 triệu cho ông L.T.R.

31/03/2013

Tổng hợp các văn bản liên quan đến thi hành án dân sự mới nhất

- Không có nhận xét nào

(Đức Hoài)-Bạn đang cần tổng hợp các văn bản liên quan đến thi hành án dân sự? Bạn đang vướng phải một vấn pháp lý thi hành án dân sự mà không biết pháp luật thi hành án dân sự quy định như thế nào về vấn đề này? Dưới đây là tổng hợp các văn bản pháp luật thi hành án dân sự mới nhất để bạn tham khảo:
Văn bản hướng dẫn chung:


  1. Luật Thi hành án dân sự
  2. Nghị quyết thi hành Luật Thi hành án dân sự
  3. Thông tư liên tịch 14/2011/TTLT-BTP-BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự
  4. Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự
  5. Thông tư liên tịch 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự
  6. Quyết định 1501/2008/QĐ-BCA về Quy trình hỗ trợ cưỡng chế thi hành án dân sự của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp
  7. Thông tư liên tịch 03/2012/TTLT-BTP-BCA quy định phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự
  8. Thông tư liên tịch 184/2011/TTLT-BTC-BTP hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự
  9. Thông tư 144/2010/TTLT-BTC-BTP hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự
  10. Thông tư liên lịch 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
  11. Thông tư liên tịch 141/2010/TTLT/BQP-BTP hướng dẫn việc phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội
  12. Thông tư liên tịch 24/2011/TTLT-BTP-BQP hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự
  13. Thông tư 05/2011/TT-BTP về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo kê biên tài sản thi hành án tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm
Văn bản hướng dẫn về cơ cấu tổ chức, cán bộ công chức:
  1. Nghị định 74/2009/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án, cơ quan thi hành án và công chức làm công tác thi hành án dân sự
  2. Quyết định 32/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thi hành án dân sự
  3. Thông tư 17/2010/TT-BTP quy định phân cấp quản lý công chức, công chức lãnh đạo cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự
  4. Quyết định 1777/QĐ-TTG về danh sách các cơ quan thi hành án dân sự tại các điạ bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo được tuyển chọn người có trình độ cử nhân luật làm Chấp hành viên không qua thi tuyển
  5. Thông tư 04/2009/TTLT-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên nghề đối với cán bộ, công chức đã được xếp lương theo các ngạch hoặc chức danh chuyên ngành thi hành án dân sự
  6. Quyết định 86/2007/QĐ-TTg về chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với thẩm tra viên thi hành án dân sự
  7. Quyết định 27/2012/QĐ-TTg chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề đối với Chấp hành, Công chứng, Thẩm tra viên và Thư ký thi hành án (có hiệu lực ngày 01/8/2012)
  8. Thông tư 09/2008/TTLT-BTP-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện Quyết định 86/2007/QĐ-TTg
  9. Quyết định 73/2007/QĐ-TTg về thực hiện chế độ bồi dưỡng đối với những người trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự
  10. Thông tư 22/2010/TT-BTP về đăng ký, cung cấp thông tin trực tuyến giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án
Văn bản hướng dẫn khác:
  1. Quyết định 1420/QĐ-GQKNTC ban hành Quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự
  2. Quyết định 1454/QĐ-TCTHADS quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Giải quyết khiếu nại, tố cáo
  3. Quyết định 07/2007/QĐ-BTP ban hành quy định về biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân sự
  4. Thông tư liên tịch 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp
  5. Thông tư 91/2010/TT-BTC hướng dẫn kế toán nghiệp vụ thi hành án dân sự
  6. Thông tư 10/2010/TT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức chấp hành viên và thư ký thi hành án dân sự

30/03/2013

Quy định pháp luật về người giám hộ

- Không có nhận xét nào
   (Đức Hoài) - Quy định cụ thể về Giám hộ, người giám hộ và người được giám hộ, quy định về điều kiện là người giám hộ, về giám hộ đương nhiên về cử người giám hộ, giám sát người giám hộ và quy định về quyền và nghĩa vụ của người giám hộ… cụ thể như sau :
    Giám hộ
 1.  Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
 2.  Người được giám hộ bao gồm:
Hình chỉ mang tính chất minh họa
 +   Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu;
 +   Người mất năng lực hành vi dân sự.
 3.  Người chưa đủ mười lăm tuổi,  người được quy định tại mục 2 trên đây phải có người giám hộ.
 4.  Một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà theo quy định về giám hộ đương nhiên.
    Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ
Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
 +   Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
 +   Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;
 +   Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.
 Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên
Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:
 +   Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
 +   Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ.
 Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự
 +   Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
 +   Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ.
 +   Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
    Cử người giám hộ
Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định thì ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ.
 +   Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.
 +   Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ.
    Nghĩa vụ của người giám hộ
1.  Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi
Người giám hộ của người chưa đủ mười lăm tuổi có các nghĩa vụ sau đây:
 +   Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ;
 +   Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
 +   Quản lý tài sản của người được giám hộ;
 +   Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
 2. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
Người giám hộ của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có các nghĩa vụ sau đây:
 +   Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
 +   Quản lý tài sản của người được giám hộ;
 +   Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
 3. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự
Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:
 +   Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
 +   Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
 +   Quản lý tài sản của người được giám hộ;
 +   Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
    Quyền của người giám hộ
Người giám hộ có các quyền sau đây:
 +   Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu cần thiết của người được giám hộ;
 +   Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
 +   Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
   Quản lý tài sản của người được giám hộ
 +   Người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình.
 +   Người giám hộ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ. Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
 +   Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác.
 +   Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
   Thay đổi người giám hộ
 +   Người giám hộ được thay đổi trong các trường hợp sau đây:
 -    Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định;
 -    Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Toà án tuyên bố mất tích, tổ chức làm giám hộ chấm dứt hoạt động;
 -    Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;
 -    Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.
 +   Trong trường hợp thay đổi người giám hộ đương nhiên thì những người khác được quy định là người giám hộ đương nhiên; nếu không có người giám hộ đương nhiên thì việc cử người giám hộ được thực hiện việc cử người giám hộ theo quy định.
 +   Thủ tục thay đổi người giám hộ được cử được thực hiện theo quy định.

Theo  Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn
Công ty Luật Minh Gia

Quy định của pháp luật về hụi

- Không có nhận xét nào

(Đức Hoài) - Theo điều 479 (BLDS năm 2005):
        "Hụi là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thoả thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền (hoặc tài sản khác), thể thức góp, lĩnh hụi và quyền, nghĩa vụ của các bên"
Theo điều 4 NĐ 144/2006/NĐ-CP Hụi chia ra hai hình thức:
        + Hụi không có lãi.
        + Hụi có lãi
        Hụi có lãi gồm: Hụi đầu thảo và Hụi hưởng hoa hồng.   

    Theo điều 4 NĐ 144/2006/NĐ-CP thì nội dung thoả thuận về Hụi gồm:
        + Chủ hụi
        + Số người tham gia, phần hụi.
        + Kỳ mở hụi.
        + Thể thức góp và lĩnh hụi.
        + Quyền và nghĩa vụ của người tham gia.
        + Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ.
        + Chuyển giao, ra khỏi hụi, chấm dứt hụi.
        + Các nội dung khác.
    Theo điều 19 NĐ 144/2006/NĐ-CP
        Hụi đầu thảo: là hụi mà theo sự thoả thuận giữa những người tham gia, chủ hụi được lĩnh toàn bộ các phần hụi trong một kỳ mở hụi và không phải trả lãi cho các thành viên khác. Trong các kỳ mở hụi khác, thành viên trả lãi cao nhất được lĩnh hụi và phải trả lãi cho các thành viên khác.
    Theo điều 24 NĐ 144/2006/NĐ-CP:
        Hụi hưởng hao hồng: là hụi mà theo sự thoả thuận giữa những người tham gia, chủ hụi có trách nhiệm thu phần hụi của các thanh viên góp để giao cho người được lĩnh hụi. người được lĩnh hụi phải trả lãi cho các thành viên khác và trả hoa hồng cho chủ hụi. Mức hoa hồng do những người tham gia thoả thuận.
    Theo điều 10 NĐ 144/2006/NĐ-CP và điều 476 (BLDS):
        Trường hợp "họ" có lãi do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 100% lãi suất của Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời điểm trả nợ.
A. Quyền và nghĩa vụ của người tham gia giao dịch:
    I. Đối với hụi không có lãi: (Điều 13, 14, 15, 16 của NĐ 144/2006/NĐ-CP):
        Quyền của thành viên:
            - Được nhận các phần hụi từ chủ hụi hoặc các thành viên khác trong hụi đến ký mở hụi.
            - Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm.
            - Chuyển giao phần hụi theo nghĩa vụ dân sự pháp luật dân sự (Điều 309, 317 BLDS)
            - Ra khỏi hụi theo sự thoả thuận.
            - Yêu cầu chủ hụi hoặc người giữ hụi cho xem sổ và cung cấp các thông tin có liên quan đến hụi.
            - Các quyền khác theo thảo thuận.
        Nghĩa vụ của thành viên:
            - Góp phần hụi theo thoả thuận cho chủ hụi hoặc cho thành viên được lĩnh hụi.
            - Bồi thường thiệt hại do mình gây ra.
            - Các nghĩa vụ khác theo thoả thuận.
        Quyền của chủ hụi:
            - Yêu cầu các thành viên phải góp hụi.
            - Yêu cầu thành viên được lĩnh hụi nhận các phần hụi theo kỳ mở.
            - Yêu cầu thành viên không góp phần hụi của mình và phải hoàn trả phần hụi trong trường hợp chủ hụi đã góp thay cho thành viên đó.
            - Các quyền khác theo thoả thuận.
        Nghĩa vụ của chủ hụi:
            - Lập và giữ sổ hụi, giấy tờ có liên quan đến hụi.
            - Thu phần hụi của các thành viên.
            - Giao các phần hụi cho thành viên được lĩnh.
            - Nộp thay phần hụi của thành viên trong trường hợp cp1 thoả thuận nếu đến kỳ mở hụi mà thành viên không góp hụi.
            - Cho các thành viên xem sổ hụi và cung cấp các thông tin liên quan đến hụi khi có yêu cầu.   
            - Các nghĩa vụ khác theo thoả thuận.
    II. Đối với hụi có lãi (Điều 20, 21, 22, 23, 25, 26, 27, 28 ND 144/2006/NĐ-CP):
        1. Quyền và nghĩa vụ của thành viên trong hụi đầu thảo:
            Quyền:
                - Đưa ra mức lãi trong mỗi kỳ mở (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 48).
                - Hưởng lãi từ thành viên được lĩnh.
                - Các quyền khác theo quy định như hụi không có lãi.
            Nghĩa vụ:
                - Góp phần hụi.
                - Trả lãi cho các thành viên khác khi được lĩnh hụi.
                - Bồi thường thiệt hại cho những người tham gia hụi nếu vi phạm nghĩa vụ mà gây thiệt hại.
                - Các nghĩa vụ khác theo thoả thuận.
        2. Quyền và nghĩa vụ của chủ hụi đầu thảo:
                - Đựơc lĩnh các phần hụi trong mỗi kỳ mở hụi.
                - Yêu cầu thành viên không góp phần hụi của mình phải hoàn trả phần hụi phần hụi trong trường hợp chủ hụi đã góp thay cho thành viên đó.
                - Không phải trả lãi cho các thành viên khác.
        3. Quyền và nghĩa vụ của thành viên trong hụi hưởng hoa hồng:
                - Trả khoản hoa hồng cho chủ hụi.
                - Các quyền và nghĩa vụ như hụi đầu thảo.
        4. Quyền và nghĩa vụ của chủ hụi trong hưởng hoa hồng:
                - Được hưởng hoa hồng từ các thành viên được lĩnh hụi.
                - Yêu cầu các thành viên góp phần hụi.
                - Yêu cầu các thành viên không góp phần hụi của mình phải hoàn trả phần hụi trong trường hợp chủ hụi đã góp thay thành viên đó.
                - Các nghĩa vụ khác như trong hụi đầu thảo.
B. Căn cứ pháp lý và giải quyết tranh chấp:
    I. Trách nhiệm của chủ hụi:
        - Phải giao các phần hụi đã thu của các thành viên cho thành viên được lĩnh hụi theo yêu cầu và bồi thường thiệt hại nếu có.
        - Phải trả lãi đối với các phần hụi giao chậm theo mức lãi suất do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận thì theo lãi suất Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm giao.
    II. Trách nhiệm của thành viên:
        - Phải thanh toán đủ phần hụi khi đến kỳ mở hụi trong trường hợp còn thiếu tương ứng với thời gian chưa thanh toán đến khi kết thúc hụi và bồi thường thiệt hạn nếu có.
        - Phải trả lãi trong trường hợp chậm góp của phần mình cho chủ hụi, mức lãi do các bên thoả thuận, nếu không thỏa thuận thì theo lãi suất Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả các phần hụi.
    III. Gải quyết tranh chấp:
            Bằng thương lượng, hoà giải theo yêu cầu của một hoặc nhiều người tham gia hụi, được giải quyết tại Toà án theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự
Nguồn: http://www.baclieu.gov.vn/

20/03/2013

Tránh lập di chúc chung của vợ chồng

- Không có nhận xét nào
(Hoailegal)-Nếu di chúc chung đó không hợp pháp mà những người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời thì đến khi người lập di chúc sau cùng chết, thời hiệu khởi kiện không còn thì quyền lợi của người thừa kế coi như bị bỏ lửng…
BLDS cho phép vợ chồng được lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất kỳ lúc nào nếu được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.
Hiện nay, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng lập di chúc chung nhằm bảo toàn tài sản để lại cho con cháu nhưng thực tiễn đã nảy sinh khá nhiều vướng mắc pháp lý.
Không thể định đoạt tài sản của mình
Theo nhiều chuyên gia, vướng mắc lớn nhất là việc khi vợ hoặc chồng chết trước thì người còn lại cũng như người thừa kế theo di chúc không thể định đoạt di sản như bán, thế chấp… Có việc này bởi di chúc chung của vợ chồng chủ yếu định đoạt nhà, đất. Nhà, đất là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, chưa phân định phần nào là sở hữu của mỗi người nên khi một người chết trước thì không thể công chứng việc mua bán phần tài sản thuộc sở hữu của người còn sống được. Mặt khác, theo luật di chúc chung chỉ có hiệu lực sau khi cả vợ chồng cùng chết hoặc người sau cùng chết. Do vậy, khi một trong hai người vẫn còn sống thì chưa thể làm thủ tục khai nhận thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản.
Chẳng hạn trường hợp của ông VTH ở TP Tân An (Long An). Thương người con gái độc thân, vợ chồng ông lập di chúc để lại căn nhà đang ở cho chị. Năm 2006, vợ ông H. bệnh nặng qua đời. Hai năm sau, ông H. bị tai biến, nằm liệt tại chỗ. Việc chữa trị, chăm sóc ông rất tốn kém trong khi chỉ một tay người con gái bươn chải. Nợ nần chồng chất, ông H. và con bàn nhau bán nhà trả nợ, còn lại mua một căn nhà nhỏ để cha con sống và có dư một ít tiền làm vốn cho người con mua bán sinh nhai.

Sau đó, người con đem hồ sơ nhà đất và tờ di chúc ra phòng công chứng khai nhận di sản thì bị từ chối. Theo phòng công chứng, đây là di chúc chung của vợ chồng nên khi ông H. còn sống thì di chúc chưa có hiệu lực. Ông H. muốn thay đổi nội dung di chúc nhằm có thể tự bán phần một nửa căn nhà của ông nên nhờ cậy một luật sư tư vấn miễn phí. Tuy nhiên, luật sư cho biết một nửa căn nhà của ông gắn liền với phần tài sản của người vợ đã mất, mặt khác theo luật, khi sửa đổi di chúc chung của vợ chồng thì không được làm thay đổi bản chất nội dung của di chúc. Nghĩa là dù ông H. có định đoạt lại nửa căn nhà phần ông thế nào thì cũng không thể thay đổi, hủy bỏ việc cho người con gái căn nhà đó được.
Bán nhà không được, thế chấp vay tiền ngân hàng cũng không xong, cha con ông H. đành ngậm ngùi chấp nhận hoàn cảnh thiếu trước hụt sau, túng quẫn từng ngày.
Một vụ khác là trường hợp ông TVT ở TP Biên Hòa (Đồng Nai), vốn có nhà bạc tỉ nhưng cuối đời phải sống trong cảnh khổ. Vợ chồng ông lập di chúc chung để lại căn nhà duy nhất trị giá khoảng 2 tỉ đồng cho hai con. Sau khi vợ mất, hai con bỏ rơi ông, không đứa nào chăm sóc vì chê cha khó tính, hay bẳn gắt. Ông tuổi già sức yếu (hơn 90 tuổi), muốn bán căn nhà của mình để có tiền trang trải tuổi già nhưng không được. Ông khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ di chúc cũng bị tòa từ chối.
Ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện thừa kế
Ngoài vướng mắc trên, theo một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM, quy định hiện hành về di chúc chung của vợ chồng còn nhiều bất cập khác. Bởi lẽ thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc chung vợ chồng không đơn giản chỉ là căn cứ để phân chia di sản theo di chúc chung mà còn ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện, quyền thừa kế cũng như việc định giá di sản của người chết...
Vị thẩm phán này phân tích: Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy hết 10 năm mà một trong hai người lập di chúc vẫn còn sống thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối với phần di sản của người chết trước cũng không còn. Giả sử nếu di chúc chung đó không hợp pháp mà những người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời thì đến khi người lập di chúc sau cùng chết, thời hiệu khởi kiện không còn thì quyền lợi của người thừa kế coi như bị bỏ lửng…
Ngoài ra, quy định về hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng sẽ dẫn đến tình trạng khó phân chia di sản. Nếu người còn lại sống thọ quá lâu, tài sản chung có thể không còn nguyên vẹn hay tăng, giảm giá trị thì việc xác định giá trị tài sản chung hết sức phức tạp, tạo ra nhiều tranh chấp khác khó giải quyết…
Theo Báo Pháp luật